Với
nhiều người, câu thành ngữ “càng học, càng dốt” là một nghịch lý,
khó hiểu và khó chấp nhận. Theo “lẽ phải thông thường” (chữ dùng
của GS. Hồ Ngọc Đại), người ta càng học càng phải tiến bộ, hiểu biết
nhiều hơn. Nhưng sao lại nói: “Càng học, càng dốt” nhỉ? Vậy mà đúng
là càng học càng dốt đấy bạn ạ. Mới nghe, câu này là nghịch lý,
nhưng đi sâu vào bản chất thì nó không còn là nghịch lý nữa.
“Nghịch
lý là những sai quấy và thuẫn nghịch trong nhận thức, dường như đi
ngược lại với logic thông thường. Trong tiếng Anh (và nhiều thứ tiếng
châu Âu khác), từ “paradox” (nghịch lý) mang tiếp tố “para-“ có nghĩa
là “áng chừng”, “lân cận”, “không hẳn”. Cho nên “paradox” ám chỉ một
sự “mờ mờ ảo ảo” về một mâu thuẫn nào đó trong nhận thức mà chúng
ta chưa “giải mã” được”[1].
Trở lại câu thành ngữ: “càng học, càng dốt”.
Phải nói ngay rằng đây không phải là một nghịch lý. Bạn thử hình
dung khi mình còn nhỏ, đi học tiểu học, rồi lớn dần, học lên trung
học, đại học… Nhận thức, hiểu biết của bạn về mọi lĩnh vực ngày
càng tăng tiến. Rất tự nhiên bạn nghĩ rằng, mình càng học càng tiến
bộ. Có chuyện đó. Nhưng câu thành ngữ này muốn nói đến một điều sâu
xa và mang tính triết lý, triết học hơn chứ không theo “lẽ phải thông
thường” như vậy!
Mời bạn hãy tưởng tượng (hay quan sát) khi bơm
một quả bóng bay xem điều gì xẩy ra? Ta hãy quy ước với nhau bề mặt ngoài
quả bóng bay biểu thị cho sự hiểu biết của con người, còn khoảng
không khí mà mặt ngoài quả bóng tiếp xúc là những điều ta chưa
biết. Khi bóng được bơm ít hơi, diện tiếp xúc của mặt ngoài bóng với
không khí còn nhỏ. Điều đó cũng có nghĩa là sự hiểu biết của con
người còn hạn chế (nhỏ, ít). Nhưng khi quả bóng được bơm căng phình
to lên thì diện tiếp xúc trên bề mặt của nó với không khí (cái chưa biết) cũng lớn hơn khi
trước. Bóng càng được bơm to, diện tiếp xúc của bề mặt với không
khí càng lớn hơn.
Qua hình ảnh quả bóng được bơm căng/to đem đến cho
ta một nhận thức trực quan sinh động - sự không hiểu biết (tức cái dốt)
của chúng ta đã tăng lên theo tỷ lệ thuận với cái biết của ta. Nghịch
lý “càng học, càng dốt” đã xẩy ra! Diễn giải rõ hơn ta có thể nhận
thấy thành ngữ “càng học, càng dốt” muốn đề cập tới một chân lý: Càng
học nhiều con người càng nhận thấy sự hiểu biết của mình còn hạn
chế, nông cạn.
Trong kho tàng văn hoá dân gian, tục ngữ Việt còn có một câu khác cũng diễn đạt nội dung gần với câu thành ngữ này, đó là câu: “Ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung!” Trên thế giới, nhà bác học An-be Anh-xtanh cũng khẳng định: “Cái ta biết chỉ như một giọt nước. Cái không biết mênh mông như đại dương”.
Trong kho tàng văn hoá dân gian, tục ngữ Việt còn có một câu khác cũng diễn đạt nội dung gần với câu thành ngữ này, đó là câu: “Ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung!” Trên thế giới, nhà bác học An-be Anh-xtanh cũng khẳng định: “Cái ta biết chỉ như một giọt nước. Cái không biết mênh mông như đại dương”.
Cùng
là câu thành ngữ trên, nhưng nếu ta nhìn từ một góc độ khác, từ góc
nhìn của Đạo Phật (chẳng hạn) sẽ cho ta một tri kiến rất thú vị. Trong
khi khoa học nhận thức thế giới chủ yếu theo phương pháp thực nghiệm,
suy lý, phân loại, trừu tượng hoá và thông qua các khái niệm để tiếp
cận và diễn đạt chân lý thì Đạo học phương Đông (trong đó có Đạo Phật) lại
dùng trực giác, đặc biệt là thông qua sự chứng ngộ của bản thân con
người để nhận thức, giác ngộ và biểu đạt chân chân lý.
Các thiền sư phương Đông cho rằng, khi mà đầu óc
con người chứa đầy những khái niệm, kiến thức, tư tưởng… thì tâm không lúc đó không thanh tịnh. Khi
tâm không thanh tịnh thì con người không thể nhận thức đúng đắn hiện
thực. Chỉ khi nào trạng thái tâm của con người như trong sách Đạo của vật lý viết: “Khi óc suy
luận phân biệt ngưng bặt thì tâm trực giác sản sinh ra một dạng ý
thức đặc biệt. Thế giới chung quanh được chứng thực một cách trực
tiếp, không bị sàng lọc bởi khái niệm”[2]
khi ấy ta nhận thức được chân lý...
Trong Đạo học phương Đông có một pháp môn là
Thiền quán. Thiền quán luôn đòi hỏi người tu tập phải định tâm, làm
cho tâm đạt được nhất tâm và thanh tịnh. Từ đó trí tuệ (Phật giáo
gọi là Trí huệ) đặc biệt phát sinh. Ở trạng thái đó, con người tự
nhận thức được thế giới, vạn pháp một cách chân thực, đúng đắn và
khách quan nhất. Những điều tâm nhận thức trực giác trong trường hợp
này chính là những chân lý tuyệt đối (Chân đế khác với những chân lý tương đối là Tục đế). Khi nói đến điều này, cả
Trang Tử và Lão tử đều đồng tình với quan điểm của Phật giáo. Trang
Tử bảo rằng: “Tâm thức yên tĩnh của thánh nhân như tấm gương phản
chiếu trời đất - chiếu rọi muôn vật”. Còn tinh thần câu nói của Lão
Tử thì giống như câu thành ngữ mà chúng ta đang bàn. Ngài nói: “Theo
học, ngày càng thêm; theo đạo, ngày càng bớt” (“Vi Học nhật ích; Vi
Đạo nhật tổn”)... Vậy đó, “càng học, càng dốt” là một chân - nghịch
lý, phải không bạn (?).
Trong truyền
thống văn hoá Việt, một câu thành ngữ khác có hình thức kiểu “càng học,
càng dốt”. Đó là câu thành ngữ: “Sinh con rồi mới sinh cha. Sinh cháu giữ
nhà rồi mới sinh ông”. Thoạt nghe, dễ ngộ nhận rằng, đây là một điều
phi/nghịch lý. Nhưng đi sâu lý giải thì đây là một chân lý. Bởi người ta chỉ trở
thành cha/ông với một điều kiện, tiền đề đi kèm là đứa trẻ trong gia
đình được sinh ra. Nếu con/cháu không được sinh ra, lấy ai gọi ta là cha,
là ông? Thế cho nên: “Sinh con rồi mới sinh cha; sinh cháu giữ nhà, rồi
mới sinh ông” là đúng…
Dưới góc nhìn khoa học, triết học ta luận giải
như vậy. Nhưng ta cũng có thể mượn thuyết Duyên khởi của Đạo Phật để
giải thích hiện tượng này. Thuyết Duyên khởi cho rằng, mọi sự vật
hiện tượng trong thế giới đều không sinh, không diệt, không đầu không
cuối. Tất cả chỉ tuỳ duyên mà hiển thị trước các giác quan của ta.
Mọi sự đều nương tựa vào nhau để hiển thị, sinh diệt luân hồi bất
tận giống như câu chuyện có đứa trẻ mới có cha/ông và ngược lại có
cha/ông mới xuất hiện đứa trẻ. Nếu không có các nhân và duyên đó thì
vạn pháp đều là không hết…
(Bài đã đăng trên Tạp chí Dạy và Học ngày nay)
Bùi Tâm Văn
[1] - Anh Việt, Quang Toàn: Khoa học: nghịch lý, nghịch lý…, Nxb Trẻ, 2001, tr.7.
[2] - Fritjof Capra: Đạo
của vật lý (Một khám phá mới về sự tương đồng giữa vật lý hiện
đại & Đạo học phương Đông), Nxb Trẻ, 2001, tr.51.

Nhận xét
Đăng nhận xét