Nghiên cứu khoa học (NCKH) là một trong hai nhiệm vụ cơ bản, có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi giảng viên ở bậc đại học, cao đẳng. Giáo dục đào tạo theo phương thức truyền thống hay theo phương thức mới - đào tạo tín chỉ thì hoạt động NCKH cũng cần được coi trọng. Thậm chí phải được nhấn mạnh hơn và phải được đặt lên trên, lên trước hoạt động giảng dạy[1]. Bởi vì, nếu người giảng viên chỉ chú tâm giảng dạy mà không dành thời gian thích đáng cho NCKH thì không thể đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn cách mạng mới của đất nước. Từ suy nghĩ như vậy, bài viết này sẽ giới thiệu một vài kinh nghiệm tổ chức, quản lý hoạt động NCKH ở cấp cơ sở (bộ môn) thông qua trường hợp cụ thể là bộ môn TTHCM của trường Đại học Thương mại.
1. VAI TRÒ CỦA BỘ MÔN TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bộ môn là cấp cơ sở, có vai trò
quan trọng trong các hoạt động chuyên môn, bao gồm: giảng dạy, NCKH, đào tạo
bồi dưỡng, v.v… Muốn hoạt động NCKH đạt kết quả tốt, cần chú trọng đúng mức đến
vai trò quản lý của Bộ môn. Qua thực tế nhiều năm quản lý hoạt động này, chúng
tôi thấy, để thực hiện thành công nhiệm vụ NCKH, bộ môn cần tập trung vào làm
tốt các công việc sau đây:
- Thứ nhất: Chủ động xây dựng
kế hoạch nghiên cứu khoa học của bộ môn. Hàng năm theo quy định của Bộ, trường và dưới sự
chỉ đạo của khoa, bộ môn căn cứ vào số giờ khoa học theo quy định để một mặt
giao nhiệm vụ và mặt khác tích cực đôn đốc, động viên các giảng viên đăng ký,
cam kết thực hiện đầy đủ, đúng hạn nhiệm vụ NCKH. Mục tiêu, phương hướng chung
đặt ra cho hoạt động này là không để một giảng viên nào trong bộ môn bị thiếu
giờ khoa học khi tiến hành tổng kết, đánh giá vào cuối năm học.
Một bản kế hoạch chung được xây
dựng bài bản, nghiêm túc dựa trên tinh thần tự giác của mỗi cán bộ, giảng viên
sẽ là công cụ quản lý hữu hiệu hoạt động khoa học ở cấp cơ sở. Trong bản kế
hoạch này, bộ môn cần thể hiện rõ các chỉ tiêu phấn đấu của mỗi giảng viên
thông qua các sản phẩm được đăng ký thực hiện, bao gồm: số lượng các đề tài
khoa học (kể cả hướng dẫn sinh viên NCKH); các bài viết tham gia hội thảo các
cấp: trường, khoa, quốc gia, quốc tế; số thông tin khoa học, sản phẩm sinh hoạt
học thuật ở bộ môn, khoa; các bài đăng trên tạp chí, báo, bản tin nội bộ,
chuyên san, v.v…
Cần soạn thảo thành 3 bản kế
hoạch, trong đó 2 bản được gửi lên cho khoa, trường, còn 1 bản lưu tại bộ môn.
Trong nội dung của bản lưu ở bộ môn phải có đầy đủ các thông tin về mỗi giảng
viên đã đăng ký thực hiện là những sản phẩm gì cùng với tiến độ thực hiện cụ
thể ra sao... Có như thế, đến cuối năm khi bình xét thi đua bộ môn mới có căn
cứ để đánh giá, phân loại giảng viên chính xác. Kinh nghiệm chung cho thấy, nếu
bộ môn thực hiện nghiêm túc khâu này thì NCKH của bộ môn sẽ có điều kiện hoàn
thành tốt.
- Thứ hai: Bộ môn quản lý và thực hiện nghiêm túc kế
hoạch đề ra. Trưởng, phó bộ môn cùng các giảng viên của bộ môn phải coi bản
kế hoạch đã đăng ký với bộ môn, khoa, trường là “pháp lệnh” mà mọi người phải
thực hiện với tinh thần nghiêm túc nhất. Mọi hoạt động khoa học trong năm học
của bộ môn đều phải hướng tới việc giám sát và động viên các giảng viên hoàn
thành có chất lượng và hiệu quả kế hoạch này. Cán bộ quản lý bộ môn cần phải
thường xuyên kiểm tra, đôn đốc nhắc nhở các giảng viên của mình trong việc thực
hiện nghiêm chỉnh bản kế hoạch đã đề ra.
Bên cạnh việc kiểm tra, giám
sát, nhắc nhở thì việc động viên, chia sẻ giữa các cán bộ, giảng viên trong bộ
môn với nhau đối với hoạt động NCKH cũng không kém phần quan trọng. Bởi vì,
Trên thực tế, có nhiều giảng viên “thích” giảng dạy hơn là NCKH, vì giảng dạy
không vất vả bằng làm khoa học, hai nữa kinh phí cấp cho hoạt động khoa học ở
nhiều trường cũng không thật hấp dẫn, nên sức thu hút đối với đội ngũ giảng viên
yếu. Nếu không động viên, chia sẻ (thậm chí hỗ trợ) kịp thời thì khả năng trong
bộ môn có giảng viên nào đó không hoàn thành kế hoạch rất có thể xẩy ra...
- Thứ ba: Cán bộ quản lý bộ môn
cần gương mẫu trong hoạt động NCKH. Thông thường, các giảng viên của bộ môn
sẽ nhìn vào “sếp” của mình để hành động. Nếu “sếp” có quan điểm tích cực,
nghiêm túc và thực hiện có chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ NCKH thì các giảng
viên bộ môn sẽ noi theo. Ngược lại, nếu trong tư tưởng - hành động của các
“sếp” mà không hướng tới việc nỗ lực, quyết tâm và nâng cao chất lượng, hiệu
quả NCKH thì các thành viên khác trong bộ môn cũng sẽ dễ dàng buông xuôi, hoặc
không tích cực thực hiện theo định hướng kế hoạch bộ môn đề ra. Do đó, cán bộ
quản lý bộ môn phải là người đi đầu, làm gương trong hoạt động NCKH của bộ môn.
Tóm lại, bộ môn có vai trò quan
trọng trong hoạt động NCKH. Thông qua việc lập kế hoạch, đôn đốc, động viên,
kiểm soát… đối với hoạt động này càng chặt chẽ, nghiêm túc bao nhiêu thì nhiệm
vụ NCKH của bộ môn càng có cơ sở hoàn thành tốt bấy nhiêu.
2. VAI TRÒ, NHIỆM VỤ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA GIẢNG VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG NGHIÊN
CỨU KHOA HỌC
2.1. Bên trên là vai
trò quản lý của bộ môn đối với hoạt động NCKH, còn dưới đây tham luận sẽ trình
bày vai trò, trách nhiệm của giảng viên trong thực hiện nhiệm vụ này.
Có thể khẳng định rằng, giảng
viên có vai trò quan trọng và quyết định nhất trong việc hoàn thành nhiệm vụ
NCKH của mình nói riêng và của bộ môn nói chung. Để hoàn thành và nâng cao được
chất lượng, hiệu quả của hoạt động NCKH thì mỗi một giảng viên cần phải tập
trung thực hiện tốt các công việc cụ thể sau đây:
- Một là: Quán triệt đầy đủ, đúng đắn và sâu sắc đối với nhiệm vụ NCKH. Đây là vấn đề tư tưởng, điểm xuất phát cho hành động.
Người lính trong quân đội có câu nói: “Tư tưởng mà thông thì có thể bạt núi
ngăn sông. Còn tư tưởng không thông thì xách cái “bình tông” (bi đông đựng nước
uống) cũng không nổi!”. NCKH là nhiệm vụ bắt buộc đối với mỗi một giảng viên ở
đại học, cao đẳng. Do đó, mỗi giảng viên cần phải nhận thức thật đầy đủ, sâu
sắc và nghiêm túc về nhiệm vụ này. Từ nhận thức, tư tưởng thông suốt sẽ dẫn đến
hành động tích cực trong thực hiện nhiệm vụ NCKH của mình.
Trong hoạt động NCKH, mỗi giảng
viên cần phải nêu cao tinh thần chủ động trong xây dựng các kế hoạch nghiên
cứu. Muốn xây dựng được một kế hoạch tốt, có khả năng thực thi cao thì mỗi
người phải biết kết hợp hợp lý giữa các nhiệm vụ chuyên môn với công việc gia
đình, sức khoẻ, đồng thời phải biết khai thác tối đa thế mạnh của bản thân. Đặc
biệt, việc lập kế hoạch cá nhân càng chủ
động, càng sớm thì càng giúp cho giảng viên có điều kiện thuận lợi để hoàn
thành nhiệm vụ khoa học của mình.
- Hai là: Tích cực, chủ động trong triển khai thực hiện kế hoạch. Công việc mà mỗi giảng viên phải gánh vác trong
một năm học là rất nhiều. Do đó, muốn hoàn thành tốt kế hoạch thì mỗi giảng
viên phải biết tổ chức công việc, phân bố thời gian cho những hoạt động chuyên
môn khác nhau thật khoa học, thật hợp lý. Việc triển khai thực hiện kế hoạch cũng
cần chủ động, sáng tạo và phải tích cực. Qua thực tế cho thấy, nếu không tích
cực, chủ động, sáng tạo thì người giảng viên dễ rơi vào tình trạng lúng túng,
không hoàn thành kế hoạch hoặc nếu cố gắng để “hoàn thành” thì chất lượng các
sản phẩm cũng không cao. Vì thế, cần loại bỏ tư tưởng “nước đến chân mới nhảy”
trong hoạt động NCKH...
Mỗi một giảng viên thường có thế
mạnh khác nhau. Có người có khả năng viết bài cho các báo, tạp chí, các hội
thảo. Có người lại có thế mạnh đề xuất thực hiện các đề tài khoa học cấp cơ sở,
cấp Bộ, cấp quốc gia… Tuỳ vào năng lực, điều kiện và thế mạnh của mình để mỗi
giảng viên chọn cách thực hiện nhiệm vụ NCKH cho phù hợp. Tuy nhiên, phương
hướng chung thì mỗi giảng viên nên chú ý đến việc đa dạng hoá các hoạt động
nghiên cứu và đa dạng hoá các sản phẩm nghiên cứu của mình. Đồng thời nên hướng
tới công bố các kết quả nghiên cứu ở các hình thức khác nhau như sách chuyên
khảo, bài đăng tạp chí ở trong và ngoài nước để từng bước khẳng định “thương
hiệu”, tên tuổi của mình. Làm được điều này sẽ rất có lợi cho người giảng viên
trên bước đường tiến tới đạt được các mục tiêu phát triển bản thân theo con
đường chuyên môn, nghề nghiệp.
- Ba là: “Giảng viên trẻ” và “giảng viên già” cần học
tập, hỗ trợ nhau trong NCKH. Thông thường ở các bộ môn có các thế hệ khác
nhau, tạm phân thành hai thế hệ: già và trẻ. Lực lượng trẻ đã được tập dượt NCKH
thời sinh viên; nhưng dẫu sao kinh nghiệm, tri thức chuyên môn của họ còn có
những hạn chế nhất định. Vì thế, giảng viên trẻ cần chú trọng nhiều hơn đến
NCKH để tích luỹ kinh nghiệm, nâng cao tri thức, hoàn thành số giờ theo định
mức và từng bước khẳng định mình về chuyên môn, học thuật.
Trong hoạt động này, các đồng
nghiệp trẻ rất cần phát huy tốt nội lực và ưu thế của mình; đồng thời cũng cần
phải tăng cường giao lưu, học hỏi kinh nghiệm NCKH từ những đồng nghiệp đi
trước (thế hệ già). Ngược lại thế hệ già bên cạnh việc hỗ trợ giúp đỡ thế hệ
trẻ thì chính mình cũng cần để ý học hỏi thế hệ trẻ những lĩnh vực mà mình
không có ưu thế như công nghệ thông tin, ngoại ngữ (tiếng Anh). Mỗi thế hệ đều
là sản của điều kiện lịch sử nhất định, do đó đều có những mặt ưu, nhược khác
nhau. Trong NCKH cũng như trong các hoạt động khác, cả hai thế
hệ đều phải nỗ lực, phải tìm cách phát huy ưu thế của mình và tìm cách hạn chế
mặt hạn chế. Trong thời đại ngày nay, mọi người nên/cần suy nghĩ và hành động
theo phương châm: “Trẻ già học tập lẫn nhau”.
Đó là triết lý sống, là thế ứng xử văn hoá phù hợp trong thời đại mới[2].
2.2. Bên cạnh hoạt
động NCKH của chính mình thì người giảng viên ở đại học còn phải có nghĩa vụ,
trách nhiệm hướng dẫn sinh viên NCKH. NCKH đối với sinh viên cũng giống như
giảng viên, được coi là nhiệm vụ bắt buộc. “Trong quá trình học tập ở đại học,
mọi sinh viên nhất thiết phải tham gia NCKH theo mức độ từ thấp đến cao: Bài
tập nghiên cứu, khoá luận, luận văn tốt nghiệp (đồ án tốt nghiệp)[3]”.
Đối với sinh viên, NCKH là một hình thức tổ chức học tập bắt buộc, trong đó
sinh viên bước đầu vận dụng một cách tổng hợp những tri thức đã học về nghề
nghiệp tương lai của mình để tiến hành hoạt động nhận thức có tính chất nghiên
cứu, bước đầu góp phần giải quyết những vấn đề khoa học do thực tiễn nghề
nghiệp đặt ra. Trên cơ sở đó, có thể đào sâu, mở rộng và hoàn thiện vốn hiểu
biết của họ. Tập tành nghiên cứu là tập tành cách
giải quyết những vấn đề một cách... khoa học và cái kinh nghiệm đó quả thật là
vô giá cho tất cả người có hiểu biết[4].
Hướng dẫn sinh viên NCKH, nhất
là với những sinh viên năm thứ nhất, thứ hai không phải dễ dàng. Nhưng đây là
nhiệm vụ mà một giảng viên đại học không thể khước từ. Để làm tốt nhiệm vụ này
theo chúng tôi cần tập trung vào một số điểm chủ yếu sau đây:
- Thứ nhất: Giảng viên cần chủ
động, tích cực hướng dẫn sinh viên trong từng bước triển khai nghiên cứu một đề
tài cụ thể. Khâu đầu tiên là xác định đề tài. Việc xác định - đề xuất đề
tài nghiên cứu có thể xuất phát từ hai phía: giảng viên và sinh viên. Song qua
kinh nghiệm thực tế cho thấy, tốt nhất là giảng viên nên định hướng đề tài cho
sinh viên. Bởi, với trình độ của sinh viên năm thứ nhất, thứ hai thường không
xác định được đề tài nghiên cứu phù hợp. Đồng thời cũng để tránh khả năng sinh
viên thực hiện một đề tài trùng khớp hoàn toàn với một đề tài mà sinh viên khoá
trước đã làm.
- Thứ hai: Sau khi thống nhất
đề tài, giảng viên cần báo cáo với bộ môn, khoa, trường để đăng ký và hướng dẫn
thực hiện. Khi đề tài đã được duyệt thì tiếp theo giảng viên cần chủ động,
tích cực hướng dẫn sinh viên thực hiện đề tài theo đúng tiến độ, thời gian yêu
cầu. Đặc biệt, trong quá trình này cần hướng dẫn cho sinh viên cách thức xây
dựng đề cương, cách khai thác, thu thập các nguồn tài liệu và cách viết báo cáo
kết quả nghiên cứu. Trong mỗi khâu, giảng viên không nên làm thay công việc của
sinh viên, mà chỉ có thể hướng dẫn, gợi ý, góp ý, tìm cách giúp đỡ để sinh viên
tự mình thực hiện đề tài.
- Thứ ba: Muốn đạt kết quả tốt,
giảng viên cần đầu tư giúp đỡ sinh viên rất nhiều, từ việc xác định đề tài,
xây dựng đề cương, đọc, góp ý bản thảo, hướng dẫn cách viết báo cáo tóm tắt,
cách trình bày trong hội nghị thông báo khoa học sinh viên, v.v… Đây là cả một
quá trình tiêu tốt không ít thời gian, sức lực, trí tuệ của người hướng dẫn.
Khi sinh viên đã có bản thảo báo cáo kết quả nghiên cứu, giảng viên nhất thiết
phải đọc, góp ý và giúp họ sửa chữa những sai sót về nội dung, câu chữ, cách
biểu đạt theo văn phong khoa học và cách trình bày theo khung mẫu quy định của
nhà trường. Khi đã hoàn thiện thì hướng dẫn để họ in ấn, đóng quyển, viết bản
tóm tắt (nếu đạt từ loại khá trở lên) để đăng kỷ yếu, v.v…
- Thứ tư: Đối với đề tài NCKH
do sinh viên năm thứ nhất, thứ hai thực hiện, cũng không nên yêu cầu quá cao về
tính mới, tính sáng tạo theo nghĩa thông thường. Bởi đối với những sinh viên
này, NCKH mang tính tập dượt là chính.
Thông thường trong NCKH người ta
thường đòi hỏi phát hiện cái mới, cái mang tính sáng tạo cao. “NCKH là một hoạt
động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết; hoặc là
phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là
sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới[5]”.
Tuy nhiên đặt trong bối cảnh là những học sinh mới tốt nghiệp phổ thông lên
học, chưa được làm quen và chưa được huấn luyện về NCKH thì không thể đòi hỏi
quá cao đối với họ. GS Nguyễn Cảnh Toàn có lý khi đề nghị dùng thuật ngữ “tập
dượt nghiên cứu khoa học” thay cho “nghiên cứu khoa học” để nói về hoạt động
này của sinh viên.
Tuy vậy, khi tập dượt cho sinh
viên nghiên cứu khoa học người giảng viên phải chú ý hướng dẫn để họ biết cách
thực hiện một đề tài mang tính trường quy, theo đúng quy cách, quy trình,
nguyên tắc cần phải theo của một công trình khoa học. Cụ thể cần tuân thủ “Khung
kết cấu một đề tài khoa học” của trường, bộ quy định, cách sắp xếp tài liệu
tham khảo, cách trích dẫn và giới thiệu nguồn khi trích dẫn, mục lục của công
trình, v.v…
Do sinh viên còn bỡ ngỡ, lúng
túng đối với hoạt động nghiên cứu, nên người hướng dẫn phải hết sức kiên trì,
cố gắng và chấp nhận vượt qua mọi khó khăn nảy sinh trong quá trình này để
hướng dẫn dìu dắt sinh viên thực hiện thành công đề tài. Trong khi thực hiện
nhiệm vụ, người hướng dẫn phải đặc biệt
chú ý bồi dưỡng, phát triển cho sinh viên đức tính trung thực khoa học.
Điều này được cố Bộ trưởng Bộ Đại học (nay là Bộ Giáo dục - Đào tạo) - GS Tạ
Quang Bửu nêu ra trong một cuộc họp do Uỷ ban Văn hoá Giáo dục của Quốc hội chủ
trì. Trong cuộc họp đó, có người nêu câu hỏi: “Ở bậc đại học, nội dung giáo dục
đạo đức cho sinh viên là gì?”. Hai đại biểu đã đưa ra câu trả lời: “Cứ cho học
đúng năm điều Bác Hồ dạy…”. GS Tạ Quang Bửu nêu quan điểm khác: “Ở bậc đại học,
về đạo đức, cần nhất là giáo dục đức tính
trung thực khoa học”. Vấn đề này trong nhiều năm nay vẫn đang là vấn đề nổi
cộm, gây nhức nhối trong ngành giáo dục của chúng ta. “Người làm khoa học mà
thiếu đức tính trung thực trong công việc của mình thì có hại cho xã hội không
biết bao nhiêu lần hơn người bình thường[6]”.
Vì thế, ngay từ bước đi đầu tiên người giảng viên cần quan tâm loại trừ những biểu hiện không trung thực
thông qua hoạt động làm gương của chính mình và qua việc hướng dẫn cho sinh
viên thể hiện rõ tính trung thực trong việc tìm tòi, thu thập, xử lý, giới
thiệu nguồn khi trích dẫn các tài liệu… trong quá trình thực hiện đề tài.
Tác giả xin mượn ý trong câu nói
của Karl Marx làm lời kết cho tham luận này: Trong khoa học, không có con đường nào rộng rãi thênh thang cả. Chỉ
những người không sợ khó khăn, gian khổ, dám chấp nhận hi sinh và vững bước
trên con đường ghập ghềnh đầy chông gai, sỏi đá mới có thể kiếm tìm được chân
lý… NCKH đầy rẫy những khó khăn,
nhưng đây là công việc không thể không làm. Mỗi giảng viên, sinh viên một khi
đã nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ của mình, có nỗ lực quyết tâm cao, lại được
sự hỗ trợ đắc lực từ các đồng nghiệp, bộ môn, khoa, trường… thì nhiệm vụ NCKH
sẽ được hoàn thành tốt!
Tài liệu tham khảo
[1] Lưu Xuân Mới: Lý luận dạy học đại học, Nxb Giáo dục, 2000.
[2] TS Dương Ngọc Dũng: Nghiên cứu khoa học ở đại học,
http://vietbao.vn/Xa-hoi/Nghien-cuu-khoa-hoc-o-dai-hoc.
[3] Bùi Hà: Hoạt
động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học: Cần một cơ chế quản lý mới, Báo Giáo dục và Thời đại, ngày 16/8/2011.
[4] Nguyễn Huỳnh Mai: Đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học ở đại học Liège, http://dantri.com.vn.
[5] Nguyễn Cảnh Toàn (Cb): Học và dạy cách học, Nxb Đại học sư phạm,
2002.
[6] Nguyên Ngọc: “Yêu cầu hàng đầu của hoạt động khoa học”, In trong sách Giục giã từ cuộc sống, (nhiều tác giả),
Nxb Trẻ, Tia sáng, 2006.
[7] Vũ Cao Đàm: Phương
pháp luận nghiên cứu khoa học, (Xuất bản lần thứ tư, có chỉnh lý và bổ
sung), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1998.
[8] Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Cảnh Toàn: Học để đuổi kịp & Vượt (Tuyển tập tác
phẩm mới), Nxb Lao động, Hà Nội, 2010.
TS. BÙI HỒNG VẠN
[1] - TS Dương Ngọc Dũng: Nghiên cứu khoa học ở đại học, http://vietbao.vn/Xa-hoi/Nghien-cuu-khoa-hoc-o-dai-hoc.
[2] - Trước đây người Việt có câu: “Ông 70 học
ông 71”. Thời kỳ cải cách, mở cửa người Trung Quốc chủ trương: “Người già phải
học tập người trẻ”. GS Trần Quốc Vượng nêu phương châm trong thời đại mới:
“Ngày nay trẻ già học tập lẫn nhau”. Tôi thấy câu này rất chí lý, chúng ta nên
theo!
[3] - Lưu Xuân Mới: Lý luận dạy học đại học, Nxb Giáo dục, 2000, tr. 294.
[4] - Nguyễn Huỳnh Mai: Đào tạo
gắn với nghiên cứu khoa học ở đại học Liège, http://dantri.com.vn.
[5] - Vũ Cao Đàm: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, (Xuất bản lần thứ tư, có
chỉnh lý và bổ sung), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1998.
[6] - Nguyên Ngọc: “Yêu cầu hàng đầu của hoạt
động khoa học”, trong sách Giục giã từ
cuộc sống, (Nhiều tác giả), Nxb Trẻ - Tia sáng, 2006, tr.167.

Nhận xét
Đăng nhận xét