Chuyển đến nội dung chính

NGHIÊN CỨU KHOA HỌC Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC

          
             
                                                                                                            
     Nghiên cứu khoa học (NCKH) là một trong hai nhiệm vụ cơ bản, có ý nghĩa quan trọng đối với mỗi giảng viên ở bậc đại học, cao đẳng. Giáo dục đào tạo theo phương thức truyền thống hay theo phương thức mới - đào tạo tín chỉ thì hoạt động NCKH cũng cần được coi trọng. Thậm chí phải được nhấn mạnh hơn và phải được đặt lên trên, lên trước hoạt động giảng dạy[1]. Bởi vì, nếu người giảng viên chỉ chú tâm giảng dạy mà không dành thời gian thích đáng cho NCKH thì không thể đáp ứng được yêu cầu trong giai đoạn cách mạng mới của đất nước. Từ suy nghĩ như vậy, bài viết này sẽ giới thiệu một vài kinh nghiệm tổ chức, quản lý hoạt động NCKH ở cấp cơ sở (bộ môn) thông qua trường hợp cụ thể là bộ môn TTHCM của trường Đại học Thương mại.
1. VAI TRÒ CỦA BỘ MÔN TRONG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
Bộ môn là cấp cơ sở, có vai trò quan trọng trong các hoạt động chuyên môn, bao gồm: giảng dạy, NCKH, đào tạo bồi dưỡng, v.v… Muốn hoạt động NCKH đạt kết quả tốt, cần chú trọng đúng mức đến vai trò quản lý của Bộ môn. Qua thực tế nhiều năm quản lý hoạt động này, chúng tôi thấy, để thực hiện thành công nhiệm vụ NCKH, bộ môn cần tập trung vào làm tốt các công việc sau đây:
- Thứ nhất: Chủ động xây dựng kế hoạch nghiên cứu khoa học của bộ môn. Hàng năm theo quy định của Bộ, trường và dưới sự chỉ đạo của khoa, bộ môn căn cứ vào số giờ khoa học theo quy định để một mặt giao nhiệm vụ và mặt khác tích cực đôn đốc, động viên các giảng viên đăng ký, cam kết thực hiện đầy đủ, đúng hạn nhiệm vụ NCKH. Mục tiêu, phương hướng chung đặt ra cho hoạt động này là không để một giảng viên nào trong bộ môn bị thiếu giờ khoa học khi tiến hành tổng kết, đánh giá vào cuối năm học.
Một bản kế hoạch chung được xây dựng bài bản, nghiêm túc dựa trên tinh thần tự giác của mỗi cán bộ, giảng viên sẽ là công cụ quản lý hữu hiệu hoạt động khoa học ở cấp cơ sở. Trong bản kế hoạch này, bộ môn cần thể hiện rõ các chỉ tiêu phấn đấu của mỗi giảng viên thông qua các sản phẩm được đăng ký thực hiện, bao gồm: số lượng các đề tài khoa học (kể cả hướng dẫn sinh viên NCKH); các bài viết tham gia hội thảo các cấp: trường, khoa, quốc gia, quốc tế; số thông tin khoa học, sản phẩm sinh hoạt học thuật ở bộ môn, khoa; các bài đăng trên tạp chí, báo, bản tin nội bộ, chuyên san, v.v…
Cần soạn thảo thành 3 bản kế hoạch, trong đó 2 bản được gửi lên cho khoa, trường, còn 1 bản lưu tại bộ môn. Trong nội dung của bản lưu ở bộ môn phải có đầy đủ các thông tin về mỗi giảng viên đã đăng ký thực hiện là những sản phẩm gì cùng với tiến độ thực hiện cụ thể ra sao... Có như thế, đến cuối năm khi bình xét thi đua bộ môn mới có căn cứ để đánh giá, phân loại giảng viên chính xác. Kinh nghiệm chung cho thấy, nếu bộ môn thực hiện nghiêm túc khâu này thì NCKH của bộ môn sẽ có điều kiện hoàn thành tốt.
- Thứ hai: Bộ môn quản lý và thực hiện nghiêm túc kế hoạch đề ra. Trưởng, phó bộ môn cùng các giảng viên của bộ môn phải coi bản kế hoạch đã đăng ký với bộ môn, khoa, trường là “pháp lệnh” mà mọi người phải thực hiện với tinh thần nghiêm túc nhất. Mọi hoạt động khoa học trong năm học của bộ môn đều phải hướng tới việc giám sát và động viên các giảng viên hoàn thành có chất lượng và hiệu quả kế hoạch này. Cán bộ quản lý bộ môn cần phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc nhắc nhở các giảng viên của mình trong việc thực hiện nghiêm chỉnh bản kế hoạch đã đề ra.
Bên cạnh việc kiểm tra, giám sát, nhắc nhở thì việc động viên, chia sẻ giữa các cán bộ, giảng viên trong bộ môn với nhau đối với hoạt động NCKH cũng không kém phần quan trọng. Bởi vì, Trên thực tế, có nhiều giảng viên “thích” giảng dạy hơn là NCKH, vì giảng dạy không vất vả bằng làm khoa học, hai nữa kinh phí cấp cho hoạt động khoa học ở nhiều trường cũng không thật hấp dẫn, nên sức thu hút đối với đội ngũ giảng viên yếu. Nếu không động viên, chia sẻ (thậm chí hỗ trợ) kịp thời thì khả năng trong bộ môn có giảng viên nào đó không hoàn thành kế hoạch rất có thể xẩy ra...
- Thứ ba: Cán bộ quản lý bộ môn cần gương mẫu trong hoạt động NCKH. Thông thường, các giảng viên của bộ môn sẽ nhìn vào “sếp” của mình để hành động. Nếu “sếp” có quan điểm tích cực, nghiêm túc và thực hiện có chất lượng, hiệu quả nhiệm vụ NCKH thì các giảng viên bộ môn sẽ noi theo. Ngược lại, nếu trong tư tưởng - hành động của các “sếp” mà không hướng tới việc nỗ lực, quyết tâm và nâng cao chất lượng, hiệu quả NCKH thì các thành viên khác trong bộ môn cũng sẽ dễ dàng buông xuôi, hoặc không tích cực thực hiện theo định hướng kế hoạch bộ môn đề ra. Do đó, cán bộ quản lý bộ môn phải là người đi đầu, làm gương trong hoạt động NCKH của bộ môn.
Tóm lại, bộ môn có vai trò quan trọng trong hoạt động NCKH. Thông qua việc lập kế hoạch, đôn đốc, động viên, kiểm soát… đối với hoạt động này càng chặt chẽ, nghiêm túc bao nhiêu thì nhiệm vụ NCKH của bộ môn càng có cơ sở hoàn thành tốt bấy nhiêu.
2. VAI TRÒ, NHIỆM VỤ VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA GIẢNG VIÊN TRONG HOẠT ĐỘNG NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
2.1. Bên trên là vai trò quản lý của bộ môn đối với hoạt động NCKH, còn dưới đây tham luận sẽ trình bày vai trò, trách nhiệm của giảng viên trong thực hiện nhiệm vụ này.
Có thể khẳng định rằng, giảng viên có vai trò quan trọng và quyết định nhất trong việc hoàn thành nhiệm vụ NCKH của mình nói riêng và của bộ môn nói chung. Để hoàn thành và nâng cao được chất lượng, hiệu quả của hoạt động NCKH thì mỗi một giảng viên cần phải tập trung thực hiện tốt các công việc cụ thể sau đây:
- Một là: Quán triệt đầy đủ, đúng đắn và sâu sắc đối với nhiệm vụ NCKH. Đây là vấn đề tư tưởng, điểm xuất phát cho hành động. Người lính trong quân đội có câu nói: “Tư tưởng mà thông thì có thể bạt núi ngăn sông. Còn tư tưởng không thông thì xách cái “bình tông” (bi đông đựng nước uống) cũng không nổi!”. NCKH là nhiệm vụ bắt buộc đối với mỗi một giảng viên ở đại học, cao đẳng. Do đó, mỗi giảng viên cần phải nhận thức thật đầy đủ, sâu sắc và nghiêm túc về nhiệm vụ này. Từ nhận thức, tư tưởng thông suốt sẽ dẫn đến hành động tích cực trong thực hiện nhiệm vụ NCKH của mình.
Trong hoạt động NCKH, mỗi giảng viên cần phải nêu cao tinh thần chủ động trong xây dựng các kế hoạch nghiên cứu. Muốn xây dựng được một kế hoạch tốt, có khả năng thực thi cao thì mỗi người phải biết kết hợp hợp lý giữa các nhiệm vụ chuyên môn với công việc gia đình, sức khoẻ, đồng thời phải biết khai thác tối đa thế mạnh của bản thân. Đặc biệt, việc lập kế hoạch cá nhân càng chủ động, càng sớm thì càng giúp cho giảng viên có điều kiện thuận lợi để hoàn thành nhiệm vụ khoa học của mình.
- Hai là: Tích cực, chủ động trong triển khai thực hiện kế hoạch. Công việc mà mỗi giảng viên phải gánh vác trong một năm học là rất nhiều. Do đó, muốn hoàn thành tốt kế hoạch thì mỗi giảng viên phải biết tổ chức công việc, phân bố thời gian cho những hoạt động chuyên môn khác nhau thật khoa học, thật hợp lý. Việc triển khai thực hiện kế hoạch cũng cần chủ động, sáng tạo và phải tích cực. Qua thực tế cho thấy, nếu không tích cực, chủ động, sáng tạo thì người giảng viên dễ rơi vào tình trạng lúng túng, không hoàn thành kế hoạch hoặc nếu cố gắng để “hoàn thành” thì chất lượng các sản phẩm cũng không cao. Vì thế, cần loại bỏ tư tưởng “nước đến chân mới nhảy” trong hoạt động NCKH...
Mỗi một giảng viên thường có thế mạnh khác nhau. Có người có khả năng viết bài cho các báo, tạp chí, các hội thảo. Có người lại có thế mạnh đề xuất thực hiện các đề tài khoa học cấp cơ sở, cấp Bộ, cấp quốc gia… Tuỳ vào năng lực, điều kiện và thế mạnh của mình để mỗi giảng viên chọn cách thực hiện nhiệm vụ NCKH cho phù hợp. Tuy nhiên, phương hướng chung thì mỗi giảng viên nên chú ý đến việc đa dạng hoá các hoạt động nghiên cứu và đa dạng hoá các sản phẩm nghiên cứu của mình. Đồng thời nên hướng tới công bố các kết quả nghiên cứu ở các hình thức khác nhau như sách chuyên khảo, bài đăng tạp chí ở trong và ngoài nước để từng bước khẳng định “thương hiệu”, tên tuổi của mình. Làm được điều này sẽ rất có lợi cho người giảng viên trên bước đường tiến tới đạt được các mục tiêu phát triển bản thân theo con đường chuyên môn, nghề nghiệp.
- Ba là: “Giảng viên trẻ” và “giảng viên già” cần học tập, hỗ trợ nhau trong NCKH. Thông thường ở các bộ môn có các thế hệ khác nhau, tạm phân thành hai thế hệ: già và trẻ. Lực lượng trẻ đã được tập dượt NCKH thời sinh viên; nhưng dẫu sao kinh nghiệm, tri thức chuyên môn của họ còn có những hạn chế nhất định. Vì thế, giảng viên trẻ cần chú trọng nhiều hơn đến NCKH để tích luỹ kinh nghiệm, nâng cao tri thức, hoàn thành số giờ theo định mức và từng bước khẳng định mình về chuyên môn, học thuật.
Trong hoạt động này, các đồng nghiệp trẻ rất cần phát huy tốt nội lực và ưu thế của mình; đồng thời cũng cần phải tăng cường giao lưu, học hỏi kinh nghiệm NCKH từ những đồng nghiệp đi trước (thế hệ già). Ngược lại thế hệ già bên cạnh việc hỗ trợ giúp đỡ thế hệ trẻ thì chính mình cũng cần để ý học hỏi thế hệ trẻ những lĩnh vực mà mình không có ưu thế như công nghệ thông tin, ngoại ngữ (tiếng Anh). Mỗi thế hệ đều là sản của điều kiện lịch sử nhất định, do đó đều có những mặt ưu, nhược khác nhau. Trong NCKH cũng như trong các hoạt động khác, cả hai thế hệ đều phải nỗ lực, phải tìm cách phát huy ưu thế của mình và tìm cách hạn chế mặt hạn chế. Trong thời đại ngày nay, mọi người nên/cần suy nghĩ và hành động theo phương châm: “Trẻ già học tập lẫn nhau”. Đó là triết lý sống, là thế ứng xử văn hoá phù hợp trong thời đại mới[2].
2.2. Bên cạnh hoạt động NCKH của chính mình thì người giảng viên ở đại học còn phải có nghĩa vụ, trách nhiệm hướng dẫn sinh viên NCKH. NCKH đối với sinh viên cũng giống như giảng viên, được coi là nhiệm vụ bắt buộc. “Trong quá trình học tập ở đại học, mọi sinh viên nhất thiết phải tham gia NCKH theo mức độ từ thấp đến cao: Bài tập nghiên cứu, khoá luận, luận văn tốt nghiệp (đồ án tốt nghiệp)[3]”. Đối với sinh viên, NCKH là một hình thức tổ chức học tập bắt buộc, trong đó sinh viên bước đầu vận dụng một cách tổng hợp những tri thức đã học về nghề nghiệp tương lai của mình để tiến hành hoạt động nhận thức có tính chất nghiên cứu, bước đầu góp phần giải quyết những vấn đề khoa học do thực tiễn nghề nghiệp đặt ra. Trên cơ sở đó, có thể đào sâu, mở rộng và hoàn thiện vốn hiểu biết của họ. Tập tành nghiên cứu là tập tành cách giải quyết những vấn đề một cách... khoa học và cái kinh nghiệm đó quả thật là vô giá cho tất cả người có hiểu biết[4]
Hướng dẫn sinh viên NCKH, nhất là với những sinh viên năm thứ nhất, thứ hai không phải dễ dàng. Nhưng đây là nhiệm vụ mà một giảng viên đại học không thể khước từ. Để làm tốt nhiệm vụ này theo chúng tôi cần tập trung vào một số điểm chủ yếu sau đây:
- Thứ nhất: Giảng viên cần chủ động, tích cực hướng dẫn sinh viên trong từng bước triển khai nghiên cứu một đề tài cụ thể. Khâu đầu tiên là xác định đề tài. Việc xác định - đề xuất đề tài nghiên cứu có thể xuất phát từ hai phía: giảng viên và sinh viên. Song qua kinh nghiệm thực tế cho thấy, tốt nhất là giảng viên nên định hướng đề tài cho sinh viên. Bởi, với trình độ của sinh viên năm thứ nhất, thứ hai thường không xác định được đề tài nghiên cứu phù hợp. Đồng thời cũng để tránh khả năng sinh viên thực hiện một đề tài trùng khớp hoàn toàn với một đề tài mà sinh viên khoá trước đã làm.
- Thứ hai: Sau khi thống nhất đề tài, giảng viên cần báo cáo với bộ môn, khoa, trường để đăng ký và hướng dẫn thực hiện. Khi đề tài đã được duyệt thì tiếp theo giảng viên cần chủ động, tích cực hướng dẫn sinh viên thực hiện đề tài theo đúng tiến độ, thời gian yêu cầu. Đặc biệt, trong quá trình này cần hướng dẫn cho sinh viên cách thức xây dựng đề cương, cách khai thác, thu thập các nguồn tài liệu và cách viết báo cáo kết quả nghiên cứu. Trong mỗi khâu, giảng viên không nên làm thay công việc của sinh viên, mà chỉ có thể hướng dẫn, gợi ý, góp ý, tìm cách giúp đỡ để sinh viên tự mình thực hiện đề tài.
- Thứ ba: Muốn đạt kết quả tốt, giảng viên cần đầu tư giúp đỡ sinh viên rất nhiều, từ việc xác định đề tài, xây dựng đề cương, đọc, góp ý bản thảo, hướng dẫn cách viết báo cáo tóm tắt, cách trình bày trong hội nghị thông báo khoa học sinh viên, v.v… Đây là cả một quá trình tiêu tốt không ít thời gian, sức lực, trí tuệ của người hướng dẫn. Khi sinh viên đã có bản thảo báo cáo kết quả nghiên cứu, giảng viên nhất thiết phải đọc, góp ý và giúp họ sửa chữa những sai sót về nội dung, câu chữ, cách biểu đạt theo văn phong khoa học và cách trình bày theo khung mẫu quy định của nhà trường. Khi đã hoàn thiện thì hướng dẫn để họ in ấn, đóng quyển, viết bản tóm tắt (nếu đạt từ loại khá trở lên) để đăng kỷ yếu, v.v…
- Thứ tư: Đối với đề tài NCKH do sinh viên năm thứ nhất, thứ hai thực hiện, cũng không nên yêu cầu quá cao về tính mới, tính sáng tạo theo nghĩa thông thường. Bởi đối với những sinh viên này, NCKH mang tính tập dượt là chính.
Thông thường trong NCKH người ta thường đòi hỏi phát hiện cái mới, cái mang tính sáng tạo cao. “NCKH là một hoạt động xã hội, hướng vào việc tìm kiếm những điều mà khoa học chưa biết; hoặc là phát hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới và phương tiện kỹ thuật mới để cải tạo thế giới[5]”. Tuy nhiên đặt trong bối cảnh là những học sinh mới tốt nghiệp phổ thông lên học, chưa được làm quen và chưa được huấn luyện về NCKH thì không thể đòi hỏi quá cao đối với họ. GS Nguyễn Cảnh Toàn có lý khi đề nghị dùng thuật ngữ “tập dượt nghiên cứu khoa học” thay cho “nghiên cứu khoa học” để nói về hoạt động này của sinh viên.
Tuy vậy, khi tập dượt cho sinh viên nghiên cứu khoa học người giảng viên phải chú ý hướng dẫn để họ biết cách thực hiện một đề tài mang tính trường quy, theo đúng quy cách, quy trình, nguyên tắc cần phải theo của một công trình khoa học. Cụ thể cần tuân thủ “Khung kết cấu một đề tài khoa học” của trường, bộ quy định, cách sắp xếp tài liệu tham khảo, cách trích dẫn và giới thiệu nguồn khi trích dẫn, mục lục của công trình, v.v…
Do sinh viên còn bỡ ngỡ, lúng túng đối với hoạt động nghiên cứu, nên người hướng dẫn phải hết sức kiên trì, cố gắng và chấp nhận vượt qua mọi khó khăn nảy sinh trong quá trình này để hướng dẫn dìu dắt sinh viên thực hiện thành công đề tài. Trong khi thực hiện nhiệm vụ, người hướng dẫn phải đặc biệt chú ý bồi dưỡng, phát triển cho sinh viên đức tính trung thực khoa học. Điều này được cố Bộ trưởng Bộ Đại học (nay là Bộ Giáo dục - Đào tạo) - GS Tạ Quang Bửu nêu ra trong một cuộc họp do Uỷ ban Văn hoá Giáo dục của Quốc hội chủ trì. Trong cuộc họp đó, có người nêu câu hỏi: “Ở bậc đại học, nội dung giáo dục đạo đức cho sinh viên là gì?”. Hai đại biểu đã đưa ra câu trả lời: “Cứ cho học đúng năm điều Bác Hồ dạy…”. GS Tạ Quang Bửu nêu quan điểm khác: “Ở bậc đại học, về đạo đức, cần nhất là giáo dục đức tính trung thực khoa học”. Vấn đề này trong nhiều năm nay vẫn đang là vấn đề nổi cộm, gây nhức nhối trong ngành giáo dục của chúng ta. “Người làm khoa học mà thiếu đức tính trung thực trong công việc của mình thì có hại cho xã hội không biết bao nhiêu lần hơn người bình thường[6]”. Vì thế, ngay từ bước đi đầu tiên người giảng viên cần quan tâm loại trừ những biểu hiện không trung thực thông qua hoạt động làm gương của chính mình và qua việc hướng dẫn cho sinh viên thể hiện rõ tính trung thực trong việc tìm tòi, thu thập, xử lý, giới thiệu nguồn khi trích dẫn các tài liệu… trong quá trình thực hiện đề tài.
Tác giả xin mượn ý trong câu nói của Karl Marx làm lời kết cho tham luận này: Trong khoa học, không có con đường nào rộng rãi thênh thang cả. Chỉ những người không sợ khó khăn, gian khổ, dám chấp nhận hi sinh và vững bước trên con đường ghập ghềnh đầy chông gai, sỏi đá mới có thể kiếm tìm được chân lý… NCKH đầy rẫy những khó khăn, nhưng đây là công việc không thể không làm. Mỗi giảng viên, sinh viên một khi đã nhận thức đúng đắn về nhiệm vụ của mình, có nỗ lực quyết tâm cao, lại được sự hỗ trợ đắc lực từ các đồng nghiệp, bộ môn, khoa, trường… thì nhiệm vụ NCKH sẽ được hoàn thành tốt!

Tài liệu tham khảo
[1] Lưu Xuân Mới: Lý luận dạy học đại học, Nxb Giáo dục, 2000.
[2] TS Dương Ngọc Dũng: Nghiên cứu khoa học ở đại học, http://vietbao.vn/Xa-hoi/Nghien-cuu-khoa-hoc-o-dai-hoc.

[3] Bùi Hà: Hoạt động nghiên cứu khoa học ở các trường đại học: Cần một cơ chế quản lý mới, Báo Giáo dục và Thời đại, ngày 16/8/2011.

[4] Nguyễn Huỳnh Mai: Đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học ở đại học Liège, http://dantri.com.vn.

[5] Nguyễn Cảnh Toàn (Cb): Học và dạy cách học, Nxb Đại học sư phạm, 2002.

[6] Nguyên Ngọc: “Yêu cầu hàng đầu của hoạt động khoa học”, In trong sách Giục giã từ cuộc sống, (nhiều tác giả), Nxb Trẻ, Tia sáng, 2006.

[7] Vũ Cao Đàm: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, (Xuất bản lần thứ tư, có chỉnh lý và bổ sung), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1998.
[8] Giáo sư, Viện sĩ Nguyễn Cảnh Toàn: Học để đuổi kịp & Vượt (Tuyển tập tác phẩm mới), Nxb Lao động, Hà Nội, 2010.
TS. BÙI HỒNG VẠN


[1] - TS Dương Ngọc Dũng: Nghiên cứu khoa học ở đại học, http://vietbao.vn/Xa-hoi/Nghien-cuu-khoa-hoc-o-dai-hoc.
[2] - Trước đây người Việt có câu: “Ông 70 học ông 71”. Thời kỳ cải cách, mở cửa người Trung Quốc chủ trương: “Người già phải học tập người trẻ”. GS Trần Quốc Vượng nêu phương châm trong thời đại mới: “Ngày nay trẻ già học tập lẫn nhau”. Tôi thấy câu này rất chí lý, chúng ta nên theo!
[3] - Lưu Xuân Mới: Lý luận dạy học đại học, Nxb Giáo dục, 2000, tr. 294.

[4] - Nguyễn Huỳnh Mai: Đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học ở đại học Liège, http://dantri.com.vn.

[5] - Vũ Cao Đàm: Phương pháp luận nghiên cứu khoa học, (Xuất bản lần thứ tư, có chỉnh lý và bổ sung), Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội, 1998.
[6] - Nguyên Ngọc: “Yêu cầu hàng đầu của hoạt động khoa học”, trong sách Giục giã từ cuộc sống, (Nhiều tác giả), Nxb Trẻ - Tia sáng, 2006, tr.167.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

BÃI BIỂN VÀ ẨM THỰC Ở NHẬT LỆ (QUẢNG BÌNH)

                                                                                                                 Chuyến khảo sát thực tế kết hợp với du lịch nghỉ mát hè năm 2014 do Khoa LLCT (TMU) tổ chức đã để lại trong tôi những ấn tượng khó quên về đất và người Quảng Bình. Ở tầm quốc gia, quốc tế thì hai danh thắng nổi tiếng là Phong Nha - Kẻ Bàng và động Thiên Đường (gần đây thêm mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp) là những điểm thu hút khách du lịch bốn phương. Nhưng ở mức khiêm tốn hơn có thể kể đến bãi biển Nhật Lệ cùng nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sư...

THĂM VĂN MIẾU MAO ĐIỀN (MỘT CHÚT SUY NGHĨ VỀ NHO HỌC)

                                                                                                                     1. Văn miếu là hiện tượng văn hoá xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc. Sau khi Khổng Tử chết, triều đình phong kiến cho sửa lại nơi ông ở để thờ cúng, gọi là Văn miếu. Cùng với sự phát triển, lan toả của Nho giáo, nhiều nước châu Á (Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam…) cũng dựng Văn miếu. Trên đất nước ta hiện còn nhiều Văn miếu tồn tại rải rác khắp ba miền, đó là   Văn Miếu Quốc Tử giám (Hà Nội), Văn Miếu Xích Đằng (Hưng Yên), Văn Miếu Mao Điền (Hải Dương), Văn Miếu Bắc Ninh, Văn Miếu Vin...

THƠ CHA MẸ GỬI CON

Nếu một mai thấy cha già mẹ yếu Hãy thương yêu và thấu hiểu song thân. Những lúc ăn mẹ thường hay vung vãi Hay tự cha không mặc được áo quần. Hãy nhẫn nại nhớ lại thời thơ ấu Mẹ đã chăm lo tã, áo, bế, bồng. Bón cho con từng miếng ăn, hớp sữa Cho con nằm trong nệm ấm chăn bông. Cũng có lúc con thường hay trách móc Chuyện nhỏ thôi mà mẹ nói trăm lần. Xưa kia bên nôi giờ con sắp ngủ, Chuyện thần tiên mẹ kể mãi không ngưng… Có lúc cha già không muốn tắm Đừng giận cha và la mắng nặng lời. Ngày con nhỏ, con vẫn thường sợ nước Từng van xin “đừng bắt tắm, cha ơi!” Những lúc cha không quen xài máy móc Chỉ cho cha những hướng dẫn ban đầu. Cha đã dạy cho con trăm nghìn thứ Có khi nào cha trách móc con đâu? Một ngày nọ khi mẹ cha lú lẫn Khiến cho con mất hứng thú chuyện trò Nếu không phải là niềm vui đối thoại Xin đến gần và hãy lắng nghe cha. Có những lúc mẹ không buồn cầm đũa Đừng ép thêm già có lúc biếng ăn Con cần biết...