BÙI HỒNG VẠN
Nếu
chúng ta quan niệm vào học đại học là đã vượt qua một cái “ngưỡng”
phổ thông để lên học ở cấp học mới, cao hơn và khác hẳn về chất,
về nội dung so với phổ thông thì phương pháp học đại học cũng khác
hẳn phổ thông. Bởi người ta vẫn thường nói: “Đối tượng nào, phương
pháp ấy”, “Đối tượng chi phối phương pháp”. Do vậy sinh viên vào đại
học phải được/tự trang bị một hệ thống phương pháp phù hợp với yêu
cầu của cấp học mới.
Bàn
đến phương pháp học đại học là cả một vấn đề rộng lớn mà khả năng
và điều kiện có hạn của chúng tôi không cho phép. Vì thế trong bài
viết nhỏ này, chúng tôi chỉ nêu và bàn đến một phương pháp cụ thể
thuộc phạm trù phương pháp luận nhận thức, đó là phương pháp “tư duy
lưỡng hợp” để góp phần xây dựng phương pháp học tập cho sinh viên đại
học hiện nay.
“Tư duy
lưỡng hợp” là loại tư duy khi xem xét một sự vật, hiện tượng nào đó
phải xem xét cả hai mặt của sự vật, hiện tượng – mặt phải, mặt
trái; mặt trước, mặt sau; mặt tích cực, mặt tiêu cực… Từ đó để
nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng đang xem xét. “Tư duy lưỡng hợp” là loại tư duy mà
hầu như dân tộc nào trên thế giới cũng có. Tư duy này được phản ánh
rất rõ trong triết học, nghệ thuật, tôn giáo, khoa học tự nhiên và
xã hội… Ở Việt Nam, có nhà Sử học cho rằng: “Tư duy lưỡng hợp” đã
có từ lâu trong lịch sử dân tộc ta. Loại tư duy này thể hiện đặc biệt rõ nét trong
kho tàng văn hoá dân gian của người Việt Cổ[2]. Về
sau “tư duy lưỡng hợp” vẫn bảo tồn và phát triển cho đến ngày nay.
Chúng ta có thể tìm thấy lối tư duy lưỡng hợp trong hầu hết các
lĩnh vực của đời sống xã hội, trong nền văn hoá dân tộc ta. Dưới đây
chỉ xin nêu và phân tích một số dẫn chứng tiêu biểu trong văn học dân
gian và văn học viết (bác học) để làm sáng tỏ cho nhận định trên.
Trong kho tàng văn học dân gian và kho tàng văn học
viết của dân tộc, chúng ta tìm được những câu mà khi xem xét về ý
nghĩa thấy chúng đối lập nhau. Chẳng hạn, cùng nói về một người,
một vị trí trong xã hội xưa, ở chỗ này chúng ta gặp quan niệm: “Một
người làm quan, cả họ được nhờ”. Nhưng ở chỗ khác, ta gặp quan niệm
ngược lại: “Quan nhất thời, dân vạn đại”. Câu trên coi trọng, đề cao
địa vị làm quan, nhưng câu dưới thì phủ định lại. Cũng như vậy,
chúng ta gặp các câu: “Nhất sĩ, nhì nông”, câu này đề cao giới trí
thức phong kiến. Sĩ là số một, cao hơn hẳn nhà nông, nghề nông. Song
thời thế không phải lúc nào cũng thế! Chỉ cần đến lúc “hết gạo”
phải chạy rông thì lập tức “Nhất nông, nhì sĩ”. Nói về sự học, dân
tộc ta có truyền thống hiếu học. Bao nhân tài của đất nước xưa nay đều
“nên thợ, nên thầy nhờ có học”[3].
Nhưng, ngược lại, người ta lại khuyên bảo nhau: “Ai ơi chớ lấy học
trò. Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm”. Ấy là không phải dân gian ngu.
Thực tế nhân dân rất thông minh. Cũng chỉ bởi cuộc sống luôn tồn tại
hai mặt đối lập trong cùng một sự vật, hiện tượng. Do đó đã xuất
hiện những câu như vậy.
Trong quan hệ xã hội xưa, có sự phân biệt đẳng cấp
và nghề nghiệp. Vì thế mà mặc dù biết “Phi thương bất phú”, nhưng
dân ta ít người theo nghề buôn hoặc có buôn bán thì thường buôn bán
nhỏ và hoạt động này chỉ phụ thêm cho nông nghiệp. Còn ai đó mang lấy
nghiệp buôn vào thân thì bị người khác xem/coi thường và họ bị xếp
xuống bậc cuối trong thứ bậc “tứ dân”: Sĩ-Nông-Công-Thương.
Trong xã hội truyền thống, người ta thường coi trọng
người đàn ông. Tục ngữ, thành ngữ dân gian nói rõ: “Đàn ông nông nổi
giếng thơi. Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”. Cái sâu sắc của người
đàn bà trong câu trên cũng chỉ bằng cái “cơi đựng trầu”. Trong khi đó,
cái nông nổi của người đàn ông đã bằng cái giếng thơi (khơi) rồi.
Song, tình hình không phải lúc nào cũng như vậy. Trong cuộc sống
thực, có không ít người đàn bà – phụ nữ tài giỏi, họ chẳng kém gì
đàn ông. Cho nên mới có câu: “thấp mưu thua trí đàn bà”. Trong quan hệ
vợ chồng, trong lúc yêu người bạn đời của mình say đắm, đương khi
tình cảm đẹp nhất, người đàn ông tuyên bố: “Nhất vợ, nhìn trời”.
Nhưng ở một chỗ khác, trong một bối cảnh khác, nhất là ở nơi quan trên ngó xuống, người ta trông vào
thì họ đổi giọng, và sẵn sàng ra oai: “Dạy con từ thuở còn thơ, dạy
vợ từ lúc bơ vơ mới về”.
Nói đến chuyện đi đây đi đó, vượt ra khỏi luỹ tre
làng, người Việt thường khuyên nhủ nhau: “Đi cho biết đó, biết đây. Ở
nhà với mẹ biết ngày nào khôn”. Rồi vẫn biết “Đi một ngày đàng,
học một sàng khôn”, “Làm trai cho đáng nên trai. Phú Xuân đã trải,
Đồng Nai đã từng”… Song ở hoàn cảnh khác, họ lại khuyên nhau: “Trâu ta
ăn cỏ đồng ta”, “Ta về ta tắm ao ta. Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”.
Chuyện quan hệ dòng họ, láng giềng cũng tương tự như vậy. Người ta
vẫn thường nói: “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”, “Máu chảy đến
đâu ruồi bâu đến đấy”. Nhưng cuộc sống cũng dạy cho con người tình
hàng xóm, láng giềng trong nhiều trường hợp còn quý/cần hơn tình ruột
thịt. Bởi hàng xóm “tắt lửa tối đèn có nhau”, nên gặp lúc khẩn cấp
buộc người ta phải tuyên bố: “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”.
Trong tình yêu và trong tình nghĩa vợ chồng, người
ta vẫn nói: “Một túp lều tranh hai trái tim vàng”; “Chồng ta áo rách
ta thương. Chồng người áo gấm xông hương, mặc người”. Nhưng vẫn có
những phụ nữ khuyến cáo nhau: “Một giờ ngồi tựa thuyền rồng. Còn
hơn cả kiếp ngồi trong thuyền chài”; “Thà một phút huy hoàng rồi vụt
tắt. Còn hơn le lói suốt thiên thu”. Trong quan hệ chính trị, có người
quan niệm: “Dân vi bang bản” (Dân là gốc); nhưng ngược lại cũng có cả
quan niệm: Dân là gà vịt, quan là chim ưng, gà vịt dùng để nuôi chim
ưng!
Đối với thiên nhiên, có lúc người ta ca ngợi sức
mạnh con người chinh phục, chế ngự thiên nhiên: “Nghiêng đồng đổ nước
ra sông”, “Vắt đất ra nước thay trời làm mưa”… Nhưng đấy là nói đến
mặt làm được của con người. Song ngẫm lại, con người tự thấy mình còn
vô cùng yếu ớt trước sức mạnh ghê gớm của tự nhiên. Vì thế người ta
phải cảnh báo, giáo dục nhau: “Núi cao sông hãy còn dài. Dăm năm báo
oán, đời đời đánh ghen”…
Tóm lại, “tư duy lưỡng hợp” là thứ tư duy không xa
lạ đối với dân tộc ta và nhiều dân tộc khác. Loại tư duy này đòi
hỏi phải luôn nhìn các sự vật, hiện tượng trong thế đối lập. Với cách
nhìn như vậy sẽ giúp chúng ta nhận chân được bản chất các sự vật,
hiện tượng đang xem xét. Sinh viên đại học hôm nay, thế hệ sẽ gánh
trọng trách của đất nước mai sau rất cần chuẩn bị hành trang tri
thức cho mình thật tốt. Hành trang mà mỗi sinh viên cần trang bị, mang
theo trong cuộc đời mình, theo tôi, vẫn là: “Học ở đại học điều chủ
yếu là nắm lấy “phương pháp suy nghĩ…, phương pháp nghiên cứu, phương
pháp học tập, phương pháp giải quyết các vấn đề”[4],
trong đó có phương pháp “tư duy lưỡng hợp”.
[2]- Trần Quốc Vượng: Bài giảng “Phương pháp hay phong cách
học đại học” cho sinh viên K25, Khoa Sử, Trường Đại học Tổng hợp
Hà Nội, 1980.

Nhận xét
Đăng nhận xét