Chuyển đến nội dung chính

“TƯ DUY LƯỠNG HỢP” VỚI SINH VIÊN ĐẠI HỌC [1]


                                                                  BÙI HỒNG VẠN
          Nếu chúng ta quan niệm vào học đại học là đã vượt qua một cái “ngưỡng” phổ thông để lên học ở cấp học mới, cao hơn và khác hẳn về chất, về nội dung so với phổ thông thì phương pháp học đại học cũng khác hẳn phổ thông. Bởi người ta vẫn thường nói: “Đối tượng nào, phương pháp ấy”, “Đối tượng chi phối phương pháp”. Do vậy sinh viên vào đại học phải được/tự trang bị một hệ thống phương pháp phù hợp với yêu cầu của cấp học mới.
          Bàn đến phương pháp học đại học là cả một vấn đề rộng lớn mà khả năng và điều kiện có hạn của chúng tôi không cho phép. Vì thế trong bài viết nhỏ này, chúng tôi chỉ nêu và bàn đến một phương pháp cụ thể thuộc phạm trù phương pháp luận nhận thức, đó là phương pháp “tư duy lưỡng hợp” để góp phần xây dựng phương pháp học tập cho sinh viên đại học hiện nay.
          “Tư duy lưỡng hợp” là loại tư duy khi xem xét một sự vật, hiện tượng nào đó phải xem xét cả hai mặt của sự vật, hiện tượng – mặt phải, mặt trái; mặt trước, mặt sau; mặt tích cực, mặt tiêu cực… Từ đó để nhận thức được bản chất của sự vật, hiện tượng đang xem xét.  “Tư duy lưỡng hợp” là loại tư duy mà hầu như dân tộc nào trên thế giới cũng có. Tư duy này được phản ánh rất rõ trong triết học, nghệ thuật, tôn giáo, khoa học tự nhiên và xã hội… Ở Việt Nam, có nhà Sử học cho rằng: “Tư duy lưỡng hợp” đã có từ lâu trong lịch sử dân tộc ta. Loại tư duy này thể hiện đặc biệt rõ nét trong kho tàng văn hoá dân gian của người Việt Cổ[2]. Về sau “tư duy lưỡng hợp” vẫn bảo tồn và phát triển cho đến ngày nay. Chúng ta có thể tìm thấy lối tư duy lưỡng hợp trong hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong nền văn hoá dân tộc ta. Dưới đây chỉ xin nêu và phân tích một số dẫn chứng tiêu biểu trong văn học dân gian và văn học viết (bác học) để làm sáng tỏ cho nhận định trên.
          Trong kho tàng văn học dân gian và kho tàng văn học viết của dân tộc, chúng ta tìm được những câu mà khi xem xét về ý nghĩa thấy chúng đối lập nhau. Chẳng hạn, cùng nói về một người, một vị trí trong xã hội xưa, ở chỗ này chúng ta gặp quan niệm: “Một người làm quan, cả họ được nhờ”. Nhưng ở chỗ khác, ta gặp quan niệm ngược lại: “Quan nhất thời, dân vạn đại”. Câu trên coi trọng, đề cao địa vị làm quan, nhưng câu dưới thì phủ định lại. Cũng như vậy, chúng ta gặp các câu: “Nhất sĩ, nhì nông”, câu này đề cao giới trí thức phong kiến. Sĩ là số một, cao hơn hẳn nhà nông, nghề nông. Song thời thế không phải lúc nào cũng thế! Chỉ cần đến lúc “hết gạo” phải chạy rông thì lập tức “Nhất nông, nhì sĩ”. Nói về sự học, dân tộc ta có truyền thống hiếu học. Bao nhân tài của đất nước xưa nay đều “nên thợ, nên thầy nhờ có học”[3]. Nhưng, ngược lại, người ta lại khuyên bảo nhau: “Ai ơi chớ lấy học trò. Dài lưng tốn vải, ăn no lại nằm”. Ấy là không phải dân gian ngu. Thực tế nhân dân rất thông minh. Cũng chỉ bởi cuộc sống luôn tồn tại hai mặt đối lập trong cùng một sự vật, hiện tượng. Do đó đã xuất hiện những câu như vậy.
          Trong quan hệ xã hội xưa, có sự phân biệt đẳng cấp và nghề nghiệp. Vì thế mà mặc dù biết “Phi thương bất phú”, nhưng dân ta ít người theo nghề buôn hoặc có buôn bán thì thường buôn bán nhỏ và hoạt động này chỉ phụ thêm cho nông nghiệp. Còn ai đó mang lấy nghiệp buôn vào thân thì bị người khác xem/coi thường và họ bị xếp xuống bậc cuối trong thứ bậc “tứ dân”: Sĩ-Nông-Công-Thương.
          Trong xã hội truyền thống, người ta thường coi trọng người đàn ông. Tục ngữ, thành ngữ dân gian nói rõ: “Đàn ông nông nổi giếng thơi. Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu”. Cái sâu sắc của người đàn bà trong câu trên cũng chỉ bằng cái “cơi đựng trầu”. Trong khi đó, cái nông nổi của người đàn ông đã bằng cái giếng thơi (khơi) rồi. Song, tình hình không phải lúc nào cũng như vậy. Trong cuộc sống thực, có không ít người đàn bà – phụ nữ tài giỏi, họ chẳng kém gì đàn ông. Cho nên mới có câu: “thấp mưu thua trí đàn bà”. Trong quan hệ vợ chồng, trong lúc yêu người bạn đời của mình say đắm, đương khi tình cảm đẹp nhất, người đàn ông tuyên bố: “Nhất vợ, nhìn trời”. Nhưng ở một chỗ khác, trong một bối cảnh khác, nhất là ở nơi quan trên ngó xuống, người ta trông vào thì họ đổi giọng, và sẵn sàng ra oai: “Dạy con từ thuở còn thơ, dạy vợ từ lúc bơ vơ mới về”.
          Nói đến chuyện đi đây đi đó, vượt ra khỏi luỹ tre làng, người Việt thường khuyên nhủ nhau: “Đi cho biết đó, biết đây. Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn”. Rồi vẫn biết “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”, “Làm trai cho đáng nên trai. Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng”… Song ở hoàn cảnh khác, họ lại khuyên nhau: “Trâu ta ăn cỏ đồng ta”, “Ta về ta tắm ao ta. Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”. Chuyện quan hệ dòng họ, láng giềng cũng tương tự như vậy. Người ta vẫn thường nói: “Một giọt máu đào hơn ao nước lã”, “Máu chảy đến đâu ruồi bâu đến đấy”. Nhưng cuộc sống cũng dạy cho con người tình hàng xóm, láng giềng trong nhiều trường hợp còn quý/cần hơn tình ruột thịt. Bởi hàng xóm “tắt lửa tối đèn có nhau”, nên gặp lúc khẩn cấp buộc người ta phải tuyên bố: “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”.
          Trong tình yêu và trong tình nghĩa vợ chồng, người ta vẫn nói: “Một túp lều tranh hai trái tim vàng”; “Chồng ta áo rách ta thương. Chồng người áo gấm xông hương, mặc người”. Nhưng vẫn có những phụ nữ khuyến cáo nhau: “Một giờ ngồi tựa thuyền rồng. Còn hơn cả kiếp ngồi trong thuyền chài”; “Thà một phút huy hoàng rồi vụt tắt. Còn hơn le lói suốt thiên thu”. Trong quan hệ chính trị, có người quan niệm: “Dân vi bang bản” (Dân là gốc); nhưng ngược lại cũng có cả quan niệm: Dân là gà vịt, quan là chim ưng, gà vịt dùng để nuôi chim ưng!
          Đối với thiên nhiên, có lúc người ta ca ngợi sức mạnh con người chinh phục, chế ngự thiên nhiên: “Nghiêng đồng đổ nước ra sông”, “Vắt đất ra nước thay trời làm mưa”… Nhưng đấy là nói đến mặt làm được của con người. Song ngẫm lại, con người tự thấy mình còn vô cùng yếu ớt trước sức mạnh ghê gớm của tự nhiên. Vì thế người ta phải cảnh báo, giáo dục nhau: “Núi cao sông hãy còn dài. Dăm năm báo oán, đời đời đánh ghen”…
          Tóm lại, “tư duy lưỡng hợp” là thứ tư duy không xa lạ đối với dân tộc ta và nhiều dân tộc khác. Loại tư duy này đòi hỏi phải luôn nhìn các sự vật, hiện tượng trong thế đối lập. Với cách nhìn như vậy sẽ giúp chúng ta nhận chân được bản chất các sự vật, hiện tượng đang xem xét. Sinh viên đại học hôm nay, thế hệ sẽ gánh trọng trách của đất nước mai sau rất cần chuẩn bị hành trang tri thức cho mình thật tốt. Hành trang mà mỗi sinh viên cần trang bị, mang theo trong cuộc đời mình, theo tôi, vẫn là: “Học ở đại học điều chủ yếu là nắm lấy “phương pháp suy nghĩ…, phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết các vấn đề”[4], trong đó có phương pháp “tư duy lưỡng hợp”.



[1] - Bài đã đăng tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, số 4-1995.
[2]- Trần Quốc Vượng: Bài giảng “Phương pháp hay phong cách học đại học” cho sinh viên K25, Khoa Sử, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, 1980.
[3]- Dẫn theo sách Kỷ niệm 600 năm sinh Nguyễn Trãi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1992, tr.353.
[4]- Phạm Văn Đồng: Hãy tiến mạnh trên mặt trận khoa học và kỹ thuật, Nxb Sự thật, 1969, tr.33.



Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

BÃI BIỂN VÀ ẨM THỰC Ở NHẬT LỆ (QUẢNG BÌNH)

                                                                                                                 Chuyến khảo sát thực tế kết hợp với du lịch nghỉ mát hè năm 2014 do Khoa LLCT (TMU) tổ chức đã để lại trong tôi những ấn tượng khó quên về đất và người Quảng Bình. Ở tầm quốc gia, quốc tế thì hai danh thắng nổi tiếng là Phong Nha - Kẻ Bàng và động Thiên Đường (gần đây thêm mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp) là những điểm thu hút khách du lịch bốn phương. Nhưng ở mức khiêm tốn hơn có thể kể đến bãi biển Nhật Lệ cùng nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sư...

THĂM VĂN MIẾU MAO ĐIỀN (MỘT CHÚT SUY NGHĨ VỀ NHO HỌC)

                                                                                                                     1. Văn miếu là hiện tượng văn hoá xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc. Sau khi Khổng Tử chết, triều đình phong kiến cho sửa lại nơi ông ở để thờ cúng, gọi là Văn miếu. Cùng với sự phát triển, lan toả của Nho giáo, nhiều nước châu Á (Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam…) cũng dựng Văn miếu. Trên đất nước ta hiện còn nhiều Văn miếu tồn tại rải rác khắp ba miền, đó là   Văn Miếu Quốc Tử giám (Hà Nội), Văn Miếu Xích Đằng (Hưng Yên), Văn Miếu Mao Điền (Hải Dương), Văn Miếu Bắc Ninh, Văn Miếu Vin...

THƠ CHA MẸ GỬI CON

Nếu một mai thấy cha già mẹ yếu Hãy thương yêu và thấu hiểu song thân. Những lúc ăn mẹ thường hay vung vãi Hay tự cha không mặc được áo quần. Hãy nhẫn nại nhớ lại thời thơ ấu Mẹ đã chăm lo tã, áo, bế, bồng. Bón cho con từng miếng ăn, hớp sữa Cho con nằm trong nệm ấm chăn bông. Cũng có lúc con thường hay trách móc Chuyện nhỏ thôi mà mẹ nói trăm lần. Xưa kia bên nôi giờ con sắp ngủ, Chuyện thần tiên mẹ kể mãi không ngưng… Có lúc cha già không muốn tắm Đừng giận cha và la mắng nặng lời. Ngày con nhỏ, con vẫn thường sợ nước Từng van xin “đừng bắt tắm, cha ơi!” Những lúc cha không quen xài máy móc Chỉ cho cha những hướng dẫn ban đầu. Cha đã dạy cho con trăm nghìn thứ Có khi nào cha trách móc con đâu? Một ngày nọ khi mẹ cha lú lẫn Khiến cho con mất hứng thú chuyện trò Nếu không phải là niềm vui đối thoại Xin đến gần và hãy lắng nghe cha. Có những lúc mẹ không buồn cầm đũa Đừng ép thêm già có lúc biếng ăn Con cần biết...