Chuyển đến nội dung chính

VAI TRÒ CỦA GV TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ Ở ĐẠI HỌC

Đào tạo theo tín chỉ là một mô hình mới trong nền giáo dục thế giới. Ở các nước tiên tiến, đào tạo theo tín chỉ đã xuất hiện, phát triển từ lâu. Ở nước ta, đào tạo theo tín chỉ mới xuất hiện cách đây vài thập niên. Vì đây là một mô hình đào tạo mới được áp dụng vào Việt Nam nên rất cần thiết phải thảo luận rút kinh nghiệm và tìm ra những giải pháp hữu hiệu thể mô hình này ngày càng phổ biến và trở thành mô hình đem lại hiệu quả, lợi ích to lớn đối với việc tạo ra nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.
Trong bài viết này, tác giả sẽ tập trung luận bàn về một khía cạnh có tầm quan trọng đặc biệt trong đào tạo theo học chế tín chỉ, đó là vai trò của người giáo viên trong đào tạo theo học chế tín chỉ. Nội dung bài viết được kết cấu thành ba phần, trong đó phần 1 đề cập đến một số vấn đề chung của đào tạo theo tín chỉ, phần 2 luận bàn về vai trò người giáo viên trong đào tạo theo tín chỉ và phần 3 là kết luận của bài. 
  1. Mấy vấn đề chung về đào tạo theo tín chỉ
 1.1. KHÁI NIỆM TÍN CHỈ
Theo thống kê hiện nay có khoảng hơn 60 định nghĩa về tín chỉ. Từ những giác độ khác nhau người ta nêu ra các định nghĩa khác nhau về tín chỉ. Có định nghĩa coi trọng khía cạnh định tính, có định nghĩa coi trọng khía cạnh định lượng, có định nghĩa nhấn mạnh vào chuẩn đầu ra của sinh viên, có định nghĩa lại nhấn mạnh vào các mục tiêu của một chương trình học... Theo một học giả người Mỹ (gốc Trung Quốc) - James Quann (thuộc Đại học Washington) thì: Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm: (1) thời gian lên lớp; (2) thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu; và (3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài...; đối với các môn học lí thuyết một tín chỉ là một giờ lên lớp (với hai giờ chuẩn bị bài) trong một tuần và kéo dài trong một học kì 15 tuần; đối với các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối với các môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần.
Dựa vào định nghĩa trên đây kết hợp với nghiên cứu những định nghĩa khác về tín chỉ và thực tế đào tạo, Đại học quốc gia Hà Nội nêu quan niệm rất cụ thể về tín chỉ[2]: Tín chỉ là đại lượng dùng để đo khối lượng kiến thức, kĩ năng của một môn học mà người học cần phải tích lũy trong một khoảng thời gian nhất định thông qua các hình thức: (1) học tập trên lớp; (2) học tập trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc làm các phần việc khác (có sự hướng dẫn của giáo viên 1); và (3) tự học ngoài lớp như đọc sách, nghiên cứu, giải quyết vấn đề hoặc chuẩn bị bài, v.v. Tín chỉ còn được hiểu là khối lượng lao động của người học trong một khoảng thời gian nhất định trong những điều kiện học tập tiêu chuẩn.
Trong quan niệm trên, có bảy điểm cần phải lưu ý, đó là:
- Thứ nhất, hoạt động dạy - học theo tín chỉ được tổ chức theo ba hình thức: lên lớp, thực hành, và tự học. Trong ba hình thức tổ chức dạy - học này, hai hình thức đầu được tổ chức có sự tiếp xúc trực tiếp giữa giáo viên và sinh viên (giáo viên giảng bài, hướng dẫn, sinh viên nghe giảng, thực hành, thực tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên, v.v.), hình thức thứ ba không có sự tiếp xúc trực tiếp giữa giáo viên và sinh viên (giáo viên giao nội dung để sinh viên tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành). Ba hình thức tổ chức dạy - học này tương ứng với ba kiểu giờ tín chỉ: giờ tín chỉ lên lớp, giờ tín chỉ thực hành và giờ tín chỉ tự học. Theo đó, một giờ tín chỉ lên lớp bao gồm 1 tiết (50 phút) giáo viên giảng bài và 2 tiết sinh viên tự học, tự nghiên cứu ở nhà; một giờ tín chỉ thực hành bao gồm 2 tiết giáo viên hướng dẫn, điều khiển và giúp đỡ sinh viên thực hành, thực tập và và 1 tiết sinh viên tự học, tự chuẩn bị; và một giờ tín chỉ tự học bao gồm 3 tiết sinh viên tự học, tự nghiên cứu, tự thực hành theo những nội dung giáo viên giao và những gì sinh viên thấy cần phải nghiên cứu hoặc thực hành thêm (những hoạt động học tập này có thể được thực hiện ở nhà hoặc ở trong phòng thí nghiệm, trong studio, v.v.).
- Thứ hai, trong ba hình thức tổ chức dạy - học, cụ thể là trong ba kiểu giờ tín chỉ, lượng kiến thức sinh viên thu được có thể khác nhau nhưng để thuận tiện cho việc tính toán (giờ chuẩn cho giáo viên, kinh phí cho từng môn học, nhân lực để phục vụ cho dạy - học, v.v.), ba kiểu giờ tín chỉ này được coi là có giá trị ngang nhau.
- Thứ ba, có hai thuật ngữ dễ gây nhầm lẫn; đó là, một giờ tín chỉ (a credit hour) và một tín chỉ (a credit). Trong các tài liệu nghiên cứu của các nhà nghiên cứu Âu - Mĩ, hai thuật ngữ này thường được sử dụng thay cho nhau, chỉ chung một giá trị. Trong cách hiểu của chúng tôi, tín chỉ và giờ tín chỉ là hai khái niệm có nội dung khác nhau. Theo đó, một tín chỉ gồm 15 giờ tín chỉ, thực hiện trong một học kì, kéo dài 15 tuần, mỗi tuần 01 giờ tín chỉ.
- Thứ tư, có thể có những môn học chỉ gồm một kiểu giờ tín chỉ, nhưng có thể có những môn học gồm nhiều hơn một kiểu giờ tín chỉ. Trong mọi trường hợp, công thức tính cho mỗi môn học là không đổi: 1 + 0 + 2 cho môn học thuần lí thuyết, 0 + 2 + 1 cho môn học thuần thực hành, thực nghiệm, và 0 + 0 + 3 cho môn học thuần tự học.
- Thứ năm, người học trong phương thức đào tạo theo tín chỉ được cấp bằng theo hình thức tích lũy đủ tín chỉ. Theo thông lệ chung của giáo dục đại học ở Mĩ, một sinh viên được cấp bằng cử nhân khi anh ta tích lũy được 120 – 140 tín chỉ, được cấp bằng thạc sĩ khi anh ta tích lũy được 30 – 40 tín chỉ, và được cấp bằng tiến sĩ khi anh ta tích lũy được 90 – 100 tín chỉ2.
- Thứ sáu, định nghĩa tín chỉ trên mới chỉ đo năng lực học tập của người học thông qua thời lượng và theo số lượng tín chỉ được tích lũy, nó chưa đo được các mục tiêu hay chất lượng đầu ra của quá trình học tập. Tuy nhiên, người học được cấp bằng không phải chỉ phụ thuộc vào số tín chỉ mà họ tích lũy đủ mà còn phục thuộc vào điểm trung bình chung quy định cho từng học kì, từng kiểu văn bằng (cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ). Những quy định này phần lớn là do từng trường đại học quyết định.
- Thứ bảy, khác với phương thức đào tạo truyền thống, phương thức đào tạo theo tín chỉ xem tự học như là một thành phần hợp pháp trong cơ cấu giờ học của sinh viên: ngoài việc nghe giảng và thực hành trên lớp, sinh viên được giao những nội dung để tự học, tự thực hành, tự nghiên cứu; những nội dung này được đưa vào thời khóa biểu để phục vụ cho công tác quản lí và quan trọng hơn, chúng phải được đưa vào nội dung các bài kiểm tra thường xuyên và bài thi hết môn học.
1.2. NHỮNG ƯU ĐIỂM CỦA ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ
Theo lý thuyết và trên thực tế, đào tạo theo tín chỉ có một số ưu điểm nổi bật sau đây:
- Một là: Trong phương thức đào tạo truyền thống, một chương trình cử nhân gồm từ 200 – 210 đơn vị học trình, mỗi đơn vị học trình gồm 15 tiết tiếp xúc trực tiếp trên lớp giữa giáo viên và sinh viên (tương đương với 3000 – 3150 tiết). Đây là một chương trình được cho là “lấy công làm lãi”, chú trọng vào việc nhồi kiến thức của giáo viên sang sinh viên, không tính đến thời lượng tự học của sinh viên và do đó bỏ qua khả năng tự học, tự tìm tòi và phát triển tri thức của họ. Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, tự học, tự nghiên cứu của sinh viên được coi trọng được tính vào nội dung và thời lượng của chương trình. Đây là phương thức đưa giáo dục đại học về với đúng nghĩa của nó: người học tự học, tự nghiên cứu, giảm sự nhồi nhét kiến thức của người dạy, và do đó, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học.
- Hai là: Phương thức đào tạo theo tín chỉ liên quan đến độ mềm dẻo và linh hoạt của chương trình. Chương trình được thiết kế theo phương thức đào tạo tín chỉ bao gồm một hệ thống những môn học thuộc khối kiến thức chung, những môn học thuộc khối kiến thức chuyên ngành, những môn học thuộc khối kiến thức cận chuyên ngành. Mỗi khối kiến thức đều có số lượng những môn học lớn hơn số lượng các môn học hay số lượng tín chỉ được yêu cầu; sinh viên có thể tham khảo giáo viên hoặc cố vấn học tập để chọn những môn học phù hợp với mình, để hoàn thành những yêu cầu cho một văn bằng và để phục vụ cho nghề nghiệp tương lai của mình.
- Ba là: Do chính đặc điểm “tích lũy tín chỉ” trong phương thức đào tạo theo tín chỉ mang lại. Sinh viên được cấp bằng khi đã tích lũy được đầy đủ số lượng tín chỉ do trường đại học quy định; do vậy họ có thể hoàn thành những điều kiện để được cấp bằng tùy theo khả năng và nguồn lực (thời lực, tài lực, sức khỏe, v.v.) của cá nhân.
- Bốn là: Phương thức đào tạo theo tín chỉ phản ánh được những mối quan tâm và những yêu cầu của người học như là những người sử dụng kiến thức và nhu cầu của các nhà sử dụng lao động trong các tổ chức kinh doanh và tổ chức nhà nước.
- Năm là: Như đã đề cập ở Mục 3, phương thức đào tạo theo tín chỉ hầu như đã trở thành phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. Chuyển sang phương thức đào tạo theo tín chỉ sẽ tạo được sự liên thông giữa các cơ sở đào tạo đại học trong và ngoài nước. Một khi sự liên thông được mở rộng, nhiều trường đại học công nhận chất lượng đào tạo của nhau, người học có thể dễ dàng di chuyển từ trường đại học này sang học ở trường đại học kia (kể cả trong và ngoài nước) mà không gặp khó khăn trong việc chuyển đổi tín chỉ
3. Kết quả là, áp dụng phương thức đào tạo theo tín chỉ sẽ khuyến khích sự di chuyển của sinh viên, mở rộng sự lựa chọn học tập của họ, làm tăng độ minh bạch của hệ thống giáo dục, và giúp cho việc so sánh giữa các hệ thống giáo dục đại học trên thế giới được dễ dàng hơn. Phương thức đào tạo theo tín chỉ không những có lợi cho giáo viên, sinh viên mà còn có lợi cho các nhà quản lí ở các khía cạnh sau:
- Nó vừa là thước đo khả năng học tập của người học, vừa là thước đo hiệu quả và thời gian làm việc của giáo viên.
- Nó là cơ sở để các trường đại học tính toán ngân sách chi tiêu, nguồn nhân lực, có lợi không những cho tính toán ngân sách nội bộ mà còn cả cho việc tính toán để xin tài trợ từ nguồn ngân sách nhà nước và các nhà tài trợ khác.
- Nó là cơ sở để báo cáo các số liệu của trường đại học cho các cơ quan cấp trên và các đơn vị liên quan: một khi thước đo giờ tín chỉ được phát triển và kiện toàn, việc sử dụng nó như là một phương tiện để giám sát bên ngoài, để báo cáo và quản lí hành chính sẽ hữu hiệu hơn. 
2. VAI TRÒ CỦA NGƯỜI GIẢNG VIÊN TRONG ĐÀO TẠO THEO HỌC CHẾ TÍN CHỈ
Trong ph­ương thức đào tạo truyền thống, ngư­­ời dạy có một số vai trò, trong đó hai vai trò nổi bật nhất là “ng­­ười toàn trí” (ngư­­ời biết mọi tri thức về môn học liên quan) và “ngư­ời quyết định mọi hoạt động dạy - học trong lớp học”. Trong vai trò thứ nhất, ngư­­ời dạy đ­ược xem như­­ là nguồn kiến thức duy nhất, và ngư­ời học chỉ cần tiếp thu đư­ợc nguồn kiến thức này từ ngư­ời dạy là đủ. Trong vai trò thứ hai, ngư­­ời dạy đ­ư­ợc xem nh­ư­ là người có toàn quyền quyết định dạy cái gì (nội dung) và dạy như thế nào (phư­ơng pháp); người học đư­­ợc xem là những “con chiên” ngoan đạo, nghe giảng bài, ghi chép và học thuộc những gì được dạy, không đ­­ược phép can thiệp vào những công việc của ngư­­ời dạy.
Trong ph­ương thức đào tạo theo tín chỉ, hai vai trò đã nêu ở trên ở một mức độ nào đó vẫn được duy trì. Tuy nhiên, ngư­­ời dạy phải đảm nhiệm thêm ít nhất ba vai trò nữa, đó là: Thứ nhất, cố vấn cho quá trình học tập; thứ hai, ng­­ười tham gia vào quá trình học tập; thứ ba,  ngư­ời học và nhà nghiên cứu.
Với tư­­ cách là cố vấn cho quá trình học tập, khi giảng bài cũng như khi hướng dẫn thảo luận, ngư­­ời dạy phải chọn những vấn đề cốt lõi, quan trọng để giảng mà nếu không có người dạy thì người học khó có thể lĩnh hội được, tạo điều kiện cho người học tiếp thu và khám phá tiếp kiến thức. Là cố vấn cho quá trình học tập, người dạy sẽ:
(i) giúp cho chính mình hiểu đ­­ược ngư­­ời học: hiểu đư­­ợc những gì họ cần trong quá trình học tập và những gì họ có thể tự làm đ­ư­ợc để có thể chuyển giao những nhiệm vụ này cho họ thông qua hướng dẫn và giám sát;
(ii) giúp ng­­ười học thể hiện rõ hơn những ý định của họ để qua đó họ có thể phát huy đư­­ợc vai trò chủ động và sáng tạo, và những nguồn lực của chính họ để học tốt môn học;
(iii) h­­ướng sự tham gia tích cực của người học vào những mục tiêu thực tế nhất của giáo dục hiện đại: học gắn với hành.
Trong vai trò của người tham gia vào quá trình dạy - học, ngư­­ời dạy hoạt động như­­ là một thành viên tham gia vào quá trình học tập ở trên lớp với các nhóm ngư­­ời học. Với tư­­ cách vừa là cố vấn vừa là ngư­­ời tham gia vào quá trình học tập, ngư­­ời dạy còn có thêm một vai trò bổ sung nữa; đó là, nguồn tham khảo cho người học, giúp họ tháo gỡ những khó khăn trong quá trình học tập và nghiên cứu.
Trong vai trò là ngư­­ời học và ngư­­ời nghiên cứu, với tư­­ cách là một thành viên tham gia vào các hoạt động học tập ở trên lớp, ngư­­ời dạy, ở một mức độ nào đó, có điều kiện trở lại vị trí của ng­­ười học, hiểu và chia sẻ những khó khăn và trách nhiệm học tập với họ. Có thực hiện đư­­ợc vai trò của ngư­­ời học thì ngư­­ời dạy mới có thể phát huy đ­ư­ợc vai trò tích cực của ngư­­ời học, lựa chọn đư­­ợc ph­ư­ơng pháp và thủ thuật giảng dạy phù hợp. Với tư­­ cách là nhà nghiên cứu, ngư­­ời dạy có thể đóng góp khả năng và kiến thức của mình vào việc tìm hiểu bản bất của quá trình dạy - học nói chung, bản chất của quá trình học một một môn học nói riêng, những yếu tố tâm lí - xã hội ảnh hư­­ởng đến quá trình dạy - học môn học đó. Ngoài ra, thông qua nghiên cứu, ngư­­ời học sẽ ý thức đ­ư­ợc rằng dạy - học là một nhiệm vụ liên nhân - một nhiệm vụ mà cả ngư­­ời dạy và ngư­­ời học đều có trách nhiệm tham gia, trong đó học có vai trò trung tâm, dạy có vai trò hỗ trợ, và (hiển nhiên) mục tiêu học tập chi phối toàn bộ quá trình dạy - học.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Jean Marc Denommé & Madeleine Roy: Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác, Nxb Thanh niên, Tạp chí Tri thức & Công nghệ, 2000.
[2] Phạm Văn Đồng: Giáo dục đào tạo - quốc sách hàng đầu, tương lai của dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, 2008.
[3] Lưu Xuân Mới: Lý luận dạy học đại học, Nxb Giáo dục, 2000.
[4] Ban Khoa giáo trung ương: Giáo dục và đào tạo trong thời kỳ đổi mới - chủ trương, thực hiện, đánh giá, Nxb Chính trị quốc gia, 2002.
[5] Nguyễn Cảnh Toàn (chủ biên), Nguyễn Kỳ - Vũ Văn Tảo - Bùi Tường: Quá trình dạy – tự học, Nxb Giáo dục, 1998.
[6] – Nguyễn Thạc (chủ biên), Phạm Thành Nghị: Tâm lí học sư phạm đại học, Nxb Đại học Sư phạm, 2009.



[1] Thông tin khoa học Bộ môn TTHCM, năm học 2011-2012.
[2] GS.TS Hoàng Văn Vân: Phương pháp đào tạo theo tín chỉ: Lịch sử, bản chất và những hàm ý cho phương pháp dạy - học ở bậc đại học, http://dt.ussh.edu.vn.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

BÃI BIỂN VÀ ẨM THỰC Ở NHẬT LỆ (QUẢNG BÌNH)

                                                                                                                 Chuyến khảo sát thực tế kết hợp với du lịch nghỉ mát hè năm 2014 do Khoa LLCT (TMU) tổ chức đã để lại trong tôi những ấn tượng khó quên về đất và người Quảng Bình. Ở tầm quốc gia, quốc tế thì hai danh thắng nổi tiếng là Phong Nha - Kẻ Bàng và động Thiên Đường (gần đây thêm mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp) là những điểm thu hút khách du lịch bốn phương. Nhưng ở mức khiêm tốn hơn có thể kể đến bãi biển Nhật Lệ cùng nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sư...

THĂM VĂN MIẾU MAO ĐIỀN (MỘT CHÚT SUY NGHĨ VỀ NHO HỌC)

                                                                                                                     1. Văn miếu là hiện tượng văn hoá xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc. Sau khi Khổng Tử chết, triều đình phong kiến cho sửa lại nơi ông ở để thờ cúng, gọi là Văn miếu. Cùng với sự phát triển, lan toả của Nho giáo, nhiều nước châu Á (Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam…) cũng dựng Văn miếu. Trên đất nước ta hiện còn nhiều Văn miếu tồn tại rải rác khắp ba miền, đó là   Văn Miếu Quốc Tử giám (Hà Nội), Văn Miếu Xích Đằng (Hưng Yên), Văn Miếu Mao Điền (Hải Dương), Văn Miếu Bắc Ninh, Văn Miếu Vin...

THƠ CHA MẸ GỬI CON

Nếu một mai thấy cha già mẹ yếu Hãy thương yêu và thấu hiểu song thân. Những lúc ăn mẹ thường hay vung vãi Hay tự cha không mặc được áo quần. Hãy nhẫn nại nhớ lại thời thơ ấu Mẹ đã chăm lo tã, áo, bế, bồng. Bón cho con từng miếng ăn, hớp sữa Cho con nằm trong nệm ấm chăn bông. Cũng có lúc con thường hay trách móc Chuyện nhỏ thôi mà mẹ nói trăm lần. Xưa kia bên nôi giờ con sắp ngủ, Chuyện thần tiên mẹ kể mãi không ngưng… Có lúc cha già không muốn tắm Đừng giận cha và la mắng nặng lời. Ngày con nhỏ, con vẫn thường sợ nước Từng van xin “đừng bắt tắm, cha ơi!” Những lúc cha không quen xài máy móc Chỉ cho cha những hướng dẫn ban đầu. Cha đã dạy cho con trăm nghìn thứ Có khi nào cha trách móc con đâu? Một ngày nọ khi mẹ cha lú lẫn Khiến cho con mất hứng thú chuyện trò Nếu không phải là niềm vui đối thoại Xin đến gần và hãy lắng nghe cha. Có những lúc mẹ không buồn cầm đũa Đừng ép thêm già có lúc biếng ăn Con cần biết...