Trong các nhà văn Việt Nam, nhà văn tôi thích nhất chính là Nguyễn Huy Thiệp. Tôi là người yêu văn học, nhưng không được làm nghề mình yêu thích. Chính vì thế những lúc rảnh rỗi hay mang sách văn học ra đọc. Hôm nay đọc lại tập tiểu luận "Giăng lưới bắt chim" của Nguyễn Huy Thiệp, tôi vẫn thích thú như những lần đọc trước đây. Có nhiều bài do thích tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần, trong đó có bài "Nhân ngày thơ, bàn về thơ"... Theo tôi biết khi Nguyễn Huy Thiệp đăng bài này trên báo Văn hóa Thể thao (2/2006) có nhiều người phản đối... Nhưng với tôi, đây vẫn là một bài hay bàn về thơ Việt. Vì lẽ đó, xin phép nhà văn Nguyễn Huy Thiệp, Nxb. Thanh Niên cho tôi post lại bài này lên blog cá nhân để thỉnh thoảng đọc lại, nghĩ suy về thơ Việt.
"Nói về thơ (cũng là về nghệ thuật) có lẽ ít ai nói hay được như A.Rimbaud: "Tôi đặt cái đẹp lên đầu gối/ Và tôi thấy nó cay đắng quá/ Và tôi nguyền rủa nó!". Cái đẹp của thơ từ xưa đến nay không ai phủ nhận, không phải bàn. Nhưng cái cần bàn là thế nào mới gọi là thơ đích thực?
Hiện nay ở ta, tình trạng lạm phát thơ rất tệ hại, ai cũng làm thơ, danh hiệu nhà thơ bị rẻ rúng. Ngày thơ Việt Nam được tổ chức đến nay là năm thứ ba đã lộ rõ sự dung tục, nhiều lố bịch, không văn minh. Thơ, đấy phải là của tuổi trẻ, của sáng tạo, của tình yêu, của cái mới, đam mê và khát vọng. Tôi đã nhiều lần nói đến ba loại người làm thơ. Loại một của những người trẻ, những "thiên thần". Trong lịch sử thơ ca, những bài thơ tuyệt diệu nhất đều là của những trai tân, gái tân, những thần đồng (trường hợp của Huy Cận, Tế Hanh, Chế Lan Viên và nhiều tác giả "Thơ Mới" cũng như vậy. Trần Đăng Khoa thời "nhí" và Vi Thùy Linh thời chưa biết đến "mùi đời" cũng như vậy). Thơ của họ như giọt sương mai, nó là cái đẹp, ta cảm nhận được ngay. Không cần phân tích. Nó chính là đạo tự nhiên, đạo phác.
Loại hai đấy là khi người ta không còn trẻ nữa, bắt đầu vào đời, lăn lộn trong "chốn giang hồ", ngày xưa các cụ gọi loại thơ đó là "thi ngôn chí". Khi bộc lộ chí, tức là thơ sẽ đề cập đến một khu vực mạo hiểm và nhạy cảm nhất mà chúng ta vẫn quen gọi là tâm hồn. Tâm hồn là thứ rất cá nhân, nhìn chung nên giấu kín. Ngày xưa Tống Giang buồn tình viết lên vách lầu Tầm Dương mấy câu: "Thân ở Giang Đông, thân tại Ngô/ Mấy phen than thở, mấy giang hồ/ Mai sau như thỏa lòng non nước/ Mới thấy Hoàng Sào cũng trượng phu!". Chỉ vì mấy câu thơ vớ vẩn đó mà Tống Giang bị tóm cổ vào tù. Cái hại nhãn tiền sờ sờ ra đấy.
Ở ta có thể thấy các nhà thơ vẫn hay bộc lộ tình yêu trai gái trong thơ, nói trắng phớ ra là tính hiếu dâm (chí tình). Giở báo "Văn nghệ" ra, ta luôn thấy các cụ ông cụ bà tình tứ một cách "rất mất dạy". Những câu "anh anh em em" du dương có một cái gì đó thật khả ố và nực cười. Tình yêu nên dành cho tuổi trẻ, chúng ta là cựu chiến binh, chúng ta nên làm những việc khác có tính chất tu dưỡng đạo đức. ("Chiến trường thích cựu chiến binh/ Ái tình thích kẻ chiến chinh lần đầu" - thơ Nguyễn Bảo Sinh). Thơ nói chung, nhất là thơ tình yêu nên dành cho tuổi trẻ.
Ngoài loại một, loại hai vốn là thơ đích thực, còn lại là thơ chính trị, thơ tâm lý chiến, thơ tầm phào, thơ của "đám giặc già lăng nhăng thơ phú". Chiến tranh đã lùi xa, chúng ta cần phải có cách nhìn nhận đúng về các giá trị chân lý thường nhật, phải gọi đúng tên thật của nó (thí dụ thơ Phạm Tiến Duật, thơ Nguyễn Đức Mậu, thơ Xuân Sách, thơ Thu Bồn, v.v... thực chất là thơ tâm lý chiến, có đóng góp to lớn trong chiến tranh, đấy không phải là thơ giải trí). Khi các lối thơ thù tạc, "tình yêu" và lăng nhăng vớ vẩn quá lạm phát, quá phát triển thì người đời phần nào cũng cảm thấy "ghê ghê" các nhà thơ.
Từ xưa, các nhà Nho theo nghiệp thi cử đã từng coi trọng những người giỏi phú và văn sách hơn những người làm thơ là rất có lý. Người làm thơ thường bị coi là hạng phóng dật, thiếu đứng đắn, bê tha. Thơ quá phát triển là dấu hiệu của phong hóa suy đồi và đạo đức xã hội đi xuống chứ chẳng phải hay ho báu bở gì.
Trong thơ, việc quy định niêm luật chặt chẽ (hai-ku, xon-nê, lục bát, Đường luật, thất ngôn, tứ tuyệt, v.v...) chính là một cách đội lên đầu vành kim cô "rèn rũa kỷ luật tâm hồn", là hình thức giáo dục "lễ" cho người làm thơ. Ở ta, nhiều người "dân tộc chủ nghĩa" cực đoan cho lục bát mới là thơ, thơ chính là lục bát cũng có lý của họ. Một nhà thơ Việt Nam không biết làm thơ lục bát cho hay thì còn "đậm đà bản sắc dân tộc" gì nữa! Trong ba loại người làm thơ, buồn thay, loại ba bao giờ cũng chiếm số đông nhất (có đến 99% là như vậy). Thơ đích thực rất hiếm, bởi thế nó quý. "Và tôi thấy nó cay đắng quá/ Và tôi nguyền rủa nó!".
Trong truyện chưởng Kim Dung, có hình ảnh kiếm khách võ lâm thấy đám tục tử nghiệp dư ba lăng nhăng cũng học đòi đeo kiếm đi đi lại lại làm mất hình ảnh võ lâm trên giang hồ thế là tức mình vung kiếm chém sạch bọn này. Trong thơ cũng thế, tôi đã thấy có nhiều cao thủ phải nuốt bồ hòn làm ngọt đi trong ngày thơ, thở dài sườn sượt.
Con đường của nhà thơ là con đường khó khăn: hết giai đoạn thơ, hết giai đoạn thiên thần, họ phải đi đến triết học. Đi đến triết học thì chí ít họ phải bắt buộc trở thành một nhà tâm lý học trước đã. Và như vậy, công việc tu thân của một nhà thơ là một công việc lâu dài, lâu bền, mất cả đời người. "Cơm áo không đùa với khách thơ". Đấy cũng là một chân lý.
Nhân ngày thơ, bàn về thơ cũng là để "mua vui cũng được một vài trống canh". Thơ thật cao quý nhưng thật ra thơ cũng chỉ là một thể loại có phần "tráo trở và mập mờ" nhất trong các thể loại văn học "đứng đắn". Thơ cũng chỉ là một trong mười tám ban binh khí mà thôi. Để cả một ngày cho thơ thật phí, thật xa xỉ. Có lẽ ngày 15 tháng Giêng nên gọi là "ngày văn học" thì sẽ có ý nghĩa hơn nhiều. Người ta sẽ diễn kịch ở trong ngày đó, bán các thứ hàng hóa văn học và liên quan đến văn học, gặp gỡ các nhà văn trong và ngoài nước. Nếu quốc tế hóa thì đó nên là một Festival văn học, trong điều kiện nước ta nghèo thì không nên năm nào cũng tổ chức mà nên để hai hoặc ba năm một lần, có ban tổ chức chuyên nghiệp và thu hút được các nhà tài trợ trong và ngoài nước. Cũng chỉ nên làm ở một nơi cho nó ra trò chứ không nên bày đặt ra tất cả các tỉnh thành như kiểu hội hè đình đám hiện nay. Nhưng thôi, đấy là tôi lại trót làm thơ mất rồi!
"Lộ phùng kiếm khách, tu trình kiếm/ Bất thị thi nhân mạc hiến thi" (Gặp tay kiếm khách nên trình kiếm/ Không phải nhà thơ chớ hiến thơ)".
"Nói về thơ (cũng là về nghệ thuật) có lẽ ít ai nói hay được như A.Rimbaud: "Tôi đặt cái đẹp lên đầu gối/ Và tôi thấy nó cay đắng quá/ Và tôi nguyền rủa nó!". Cái đẹp của thơ từ xưa đến nay không ai phủ nhận, không phải bàn. Nhưng cái cần bàn là thế nào mới gọi là thơ đích thực?
Hiện nay ở ta, tình trạng lạm phát thơ rất tệ hại, ai cũng làm thơ, danh hiệu nhà thơ bị rẻ rúng. Ngày thơ Việt Nam được tổ chức đến nay là năm thứ ba đã lộ rõ sự dung tục, nhiều lố bịch, không văn minh. Thơ, đấy phải là của tuổi trẻ, của sáng tạo, của tình yêu, của cái mới, đam mê và khát vọng. Tôi đã nhiều lần nói đến ba loại người làm thơ. Loại một của những người trẻ, những "thiên thần". Trong lịch sử thơ ca, những bài thơ tuyệt diệu nhất đều là của những trai tân, gái tân, những thần đồng (trường hợp của Huy Cận, Tế Hanh, Chế Lan Viên và nhiều tác giả "Thơ Mới" cũng như vậy. Trần Đăng Khoa thời "nhí" và Vi Thùy Linh thời chưa biết đến "mùi đời" cũng như vậy). Thơ của họ như giọt sương mai, nó là cái đẹp, ta cảm nhận được ngay. Không cần phân tích. Nó chính là đạo tự nhiên, đạo phác.
Loại hai đấy là khi người ta không còn trẻ nữa, bắt đầu vào đời, lăn lộn trong "chốn giang hồ", ngày xưa các cụ gọi loại thơ đó là "thi ngôn chí". Khi bộc lộ chí, tức là thơ sẽ đề cập đến một khu vực mạo hiểm và nhạy cảm nhất mà chúng ta vẫn quen gọi là tâm hồn. Tâm hồn là thứ rất cá nhân, nhìn chung nên giấu kín. Ngày xưa Tống Giang buồn tình viết lên vách lầu Tầm Dương mấy câu: "Thân ở Giang Đông, thân tại Ngô/ Mấy phen than thở, mấy giang hồ/ Mai sau như thỏa lòng non nước/ Mới thấy Hoàng Sào cũng trượng phu!". Chỉ vì mấy câu thơ vớ vẩn đó mà Tống Giang bị tóm cổ vào tù. Cái hại nhãn tiền sờ sờ ra đấy.
Ở ta có thể thấy các nhà thơ vẫn hay bộc lộ tình yêu trai gái trong thơ, nói trắng phớ ra là tính hiếu dâm (chí tình). Giở báo "Văn nghệ" ra, ta luôn thấy các cụ ông cụ bà tình tứ một cách "rất mất dạy". Những câu "anh anh em em" du dương có một cái gì đó thật khả ố và nực cười. Tình yêu nên dành cho tuổi trẻ, chúng ta là cựu chiến binh, chúng ta nên làm những việc khác có tính chất tu dưỡng đạo đức. ("Chiến trường thích cựu chiến binh/ Ái tình thích kẻ chiến chinh lần đầu" - thơ Nguyễn Bảo Sinh). Thơ nói chung, nhất là thơ tình yêu nên dành cho tuổi trẻ.
Ngoài loại một, loại hai vốn là thơ đích thực, còn lại là thơ chính trị, thơ tâm lý chiến, thơ tầm phào, thơ của "đám giặc già lăng nhăng thơ phú". Chiến tranh đã lùi xa, chúng ta cần phải có cách nhìn nhận đúng về các giá trị chân lý thường nhật, phải gọi đúng tên thật của nó (thí dụ thơ Phạm Tiến Duật, thơ Nguyễn Đức Mậu, thơ Xuân Sách, thơ Thu Bồn, v.v... thực chất là thơ tâm lý chiến, có đóng góp to lớn trong chiến tranh, đấy không phải là thơ giải trí). Khi các lối thơ thù tạc, "tình yêu" và lăng nhăng vớ vẩn quá lạm phát, quá phát triển thì người đời phần nào cũng cảm thấy "ghê ghê" các nhà thơ.
Từ xưa, các nhà Nho theo nghiệp thi cử đã từng coi trọng những người giỏi phú và văn sách hơn những người làm thơ là rất có lý. Người làm thơ thường bị coi là hạng phóng dật, thiếu đứng đắn, bê tha. Thơ quá phát triển là dấu hiệu của phong hóa suy đồi và đạo đức xã hội đi xuống chứ chẳng phải hay ho báu bở gì.
Trong thơ, việc quy định niêm luật chặt chẽ (hai-ku, xon-nê, lục bát, Đường luật, thất ngôn, tứ tuyệt, v.v...) chính là một cách đội lên đầu vành kim cô "rèn rũa kỷ luật tâm hồn", là hình thức giáo dục "lễ" cho người làm thơ. Ở ta, nhiều người "dân tộc chủ nghĩa" cực đoan cho lục bát mới là thơ, thơ chính là lục bát cũng có lý của họ. Một nhà thơ Việt Nam không biết làm thơ lục bát cho hay thì còn "đậm đà bản sắc dân tộc" gì nữa! Trong ba loại người làm thơ, buồn thay, loại ba bao giờ cũng chiếm số đông nhất (có đến 99% là như vậy). Thơ đích thực rất hiếm, bởi thế nó quý. "Và tôi thấy nó cay đắng quá/ Và tôi nguyền rủa nó!".
Trong truyện chưởng Kim Dung, có hình ảnh kiếm khách võ lâm thấy đám tục tử nghiệp dư ba lăng nhăng cũng học đòi đeo kiếm đi đi lại lại làm mất hình ảnh võ lâm trên giang hồ thế là tức mình vung kiếm chém sạch bọn này. Trong thơ cũng thế, tôi đã thấy có nhiều cao thủ phải nuốt bồ hòn làm ngọt đi trong ngày thơ, thở dài sườn sượt.
Con đường của nhà thơ là con đường khó khăn: hết giai đoạn thơ, hết giai đoạn thiên thần, họ phải đi đến triết học. Đi đến triết học thì chí ít họ phải bắt buộc trở thành một nhà tâm lý học trước đã. Và như vậy, công việc tu thân của một nhà thơ là một công việc lâu dài, lâu bền, mất cả đời người. "Cơm áo không đùa với khách thơ". Đấy cũng là một chân lý.
Nhân ngày thơ, bàn về thơ cũng là để "mua vui cũng được một vài trống canh". Thơ thật cao quý nhưng thật ra thơ cũng chỉ là một thể loại có phần "tráo trở và mập mờ" nhất trong các thể loại văn học "đứng đắn". Thơ cũng chỉ là một trong mười tám ban binh khí mà thôi. Để cả một ngày cho thơ thật phí, thật xa xỉ. Có lẽ ngày 15 tháng Giêng nên gọi là "ngày văn học" thì sẽ có ý nghĩa hơn nhiều. Người ta sẽ diễn kịch ở trong ngày đó, bán các thứ hàng hóa văn học và liên quan đến văn học, gặp gỡ các nhà văn trong và ngoài nước. Nếu quốc tế hóa thì đó nên là một Festival văn học, trong điều kiện nước ta nghèo thì không nên năm nào cũng tổ chức mà nên để hai hoặc ba năm một lần, có ban tổ chức chuyên nghiệp và thu hút được các nhà tài trợ trong và ngoài nước. Cũng chỉ nên làm ở một nơi cho nó ra trò chứ không nên bày đặt ra tất cả các tỉnh thành như kiểu hội hè đình đám hiện nay. Nhưng thôi, đấy là tôi lại trót làm thơ mất rồi!
"Lộ phùng kiếm khách, tu trình kiếm/ Bất thị thi nhân mạc hiến thi" (Gặp tay kiếm khách nên trình kiếm/ Không phải nhà thơ chớ hiến thơ)".
(8/2/2006)

Nhận xét
Đăng nhận xét