Chuyển đến nội dung chính

TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP VIỆT NAM: MẤY ĐIỀU THÚ VỊ!

                                                                    
                                                                       TS. BÙI HỒNG VẠN

          
             Tuyên ngôn độc lập là một trong những văn kiện quan trọng và nổi tiếng nhất của Hồ Chí Minh (HCM). Sau này có lần HCM bộc bạch với các cộng sự thân cận của mình là khi hoàn thành bản tuyên ngôn Người cảm thấy vô cùng sung sướng. Xung quanh và trong nội dung Tuyên ngôn độc lập mà HCM soạn thảo, công bố có nhiều điều thú vị. Tìm hiểu những điều này càng giúp chúng ta thêm kính yêu người anh hùng giải phóng dân tộc, nhà văn hoá kiệt xuất của dân tộc.
          1. Chuẩn bị cho việc viết Tuyên ngôn
          Trước tình hình thế giới có những biến chuyển quan trọng, từ đầu tháng 5-1945 HCM cho chuyển “đại bản doanh” của cách mạng từ Pác Bó (Cao Bằng) về Tân Trào (Tuyên Quang), nơi có phong trào quần chúng mạnh mẽ, đã lập được chính quyền cách mạng, lại thuận lợi trong việc liên lạc với miền xuôi, miền ngược và với nước ngoài. Vào giữa tháng 5-1945, HCM đề nghị Trung uý John, báo vụ của Cơ quan Tình báo chiến lược Mỹ (OSS) điện về Côn Minh xin thả dù cho Người một bản Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ. Vào đầu tháng 8-1945, tại một địa điểm được chọn làm sân bay thuộc xóm Lũng Cò (xã Minh Thanh, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang), một bản Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ được máy bay của không đoàn 14 thả xuống theo đề nghị của HCM. Có thể nói, sự kiện này cho thấy tầm nhìn xa trông rộng của Người. Ngay khi còn ở chiến khu với một đội quân nhỏ bé, HCM đã nghĩ đến buổi lễ lịch sử công bố Tuyên ngôn Độc lập của nước ta ở thủ đô Hà Nội.
          Sau ngày Quốc dân Đại hội (16-8-1945), HCM đã nhân danh Uỷ ban Dân tộc giải phóng gửi thư kêu gọi Tổng khởi nghĩa đến đồng bào cả nước. Hưởng ứng lời kêu gọi, quần chúng ở khắp nơi đã nhanh chóng nổi dậy khởi nghĩa cướp chính quyền. Tối ngày 19-8-1945, khởi nghĩa giành quyền ở Hà Nội đã toàn thắng. Sáng ngày 22-8-1945, dù bệnh tình chưa khỏi hẳn nhưng HCM vẫn quyết định rời Tân Trào về Hà Nội để cùng Trung ương Đảng giải quyết những vấn đề trọng đại có liên quan đến vận mệnh đất nước. Buổi sáng ngày 26-8-1945, HCM triệu tập và chủ trì cuộc họp của Thường vụ Trung ương Đảng tại ngôi nhà số 48 Hàng Ngang (Hà Nội).
Trong cuộc họp này Người cùng Thường vụ Trung ương Đảng thảo luận và thông qua chủ trương đối nội, đối ngoại trong tình hình mới, việc sớm công bố danh sách thành viên Chính phủ lâm thời. Người đề nghị mở rộng hơn nữa thành phần của Chính phủ lâm thời, chuẩn bị ra Tuyên ngôn Độc lập và tổ chức mít tinh lớn ở Hà Nội để Chính phủ cách mạng ra mắt nhân dân. Thường vụ Trung ương Đảng đã quyết định ngày 2-9-1945 là ngày ra mắt của Chính phủ lâm thời. Đây cũng là ngày nước ta chính thức công bố giành quyền độc lập và thiết lập chính thể dân chủ cộng hoà. Ngoài đường lối, chính sách của Chính phủ phải chuẩn bị cả những lời thề để đưa ra trước nhân dân. Chủ tịch HCM và Thường vụ Trung ương Đảng cũng trao đổi về một việc hệ trọng cần bắt tay vào làm ngay là thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. HCM vinh dự được Thường vụ Trung ương giao cho thực hiện nhiệm vụ quan trọng này.
          Kể từ ngày 28-8-1945, HCM tập trung vào việc soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Ngày 29-8-1945, HCM mời Pát-ti đến gặp Người vào lúc 10 giờ 30 phút tại số nhà 48, phố Hàng Ngang. Cùng tiếp Pát-ti còn có đồng chí Trường Chinh. Người nói với Pát-ti về một số kế hoạch hoạt động của Chính phủ lâm thời trong những ngày sắp tới, trong đó có việc tổ chức ngày lễ Độc lập (2-9) và việc Người soạn thảo bản Tuyên ngôn Độc lập. Khi được xem bản thảo Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam, Pát-ti nhận thấy có nhiều chữ bị xoá đi và được viết đè lên bằng bút mực, với nhiều ghi chú bên lề. Chủ tịch HCM gọi người phiên dịch đến dịch cho Pát-ti nghe bản dự thảo Tuyên ngôn Độc lập. Pát-ti vô cùng ngạc nhiên khi thấy “Người đã đưa vào đó một số câu trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ nhưng đã đảo trật tự và thay thế một số từ, đem lại cho nó một ý nghĩa mới”[1].
          Trong mấy câu đầu, một số danh từ rất đỗi quen thuộc và giống lạ lùng với bản Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ. Câu tiếp sau viết là: “Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ”. Nghe đến đó, Pát-ti chặn người phiên dịch lại, kinh ngạc quay sang hỏi Chủ tịch HCM, liệu Người thực có ý định sử dụng câu đó trong bản Tuyên ngôn của Người không? Trước câu hỏi của Pát-ti, HCM ngồi dựa vào ghế, với một nụ cười nhã nhặn, Người hỏi lại Pát-ti: “Tôi không thể dùng được câu ấy à?”. Pát-ti bảo người phiên dịch đọc lại đoạn đó một lần nữa: “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Họ đã được tạo hoá trao cho những quyền không thể chuyển nhượng lại được; trong đó có quyền tự do, quyền sống và được hưởng hạnh phúc”. Cố sức nhớ lại, Pát-ti mới phát hiện ra các danh từ đã được chuyển vị trí và nhận xét là trật tự các chữ “quyền tự do” (Liberty) và “quyền sống” (Life) đã bị thay đổi. Khi Pát-ti nói ra điều này, HCM ngay lập tức trả lời: “Đúng! Không thể có tự do mà không có quyền sống, cũng như không thể có hạnh phúc mà không có tự do”. Cuối buổi gặp mặt, HCM có lời mời Pát-ti tới dự lễ Độc lập, Pát-ti nhận lời nhưng cũng tỏ ý vì lý do tế nhị có thể sẽ không đến dự được.
Trong thời gian này, HCM còn thay mặt Chính phủ lâm thời gửi bức công điện cho Tổng thống Mỹ Tơruman, Người đã nhờ Pát-ti chuyển giúp. Pát-ti nhận lời, sau đó ông ta chuyển bức điện đó cho Đại sứ Mỹ Hurley vào ngày 30-8-1945.
          Vào ngày 30-8, bản Tuyên ngôn đã được soạn thảo xong. HCM cho mời Võ Nguyên Giáp cùng một số đồng chí khác đến trao đổi, góp ý kiến cho bản dự thảo. “Sau khi đã đọc bản thảo cho những người cộng tác thân cận nghe và hỏi ý kiến họ (…). Cụ Hồ không giấu nổi sự sung sướng. Cụ Hồ nói trong đời Cụ, Cụ đã viết nhiều, nhưng đến bây giờ mới viết được một bản Tuyên ngôn như vậy”[2]. Ngày 31-8, HCM bổ sung một số điểm vào bản thảo Tuyên ngôn và ngày hôm sau (1-9), Người mời Pát-ti và Grélecki tới dự bữa cơm thân mật trước ngày lễ Độc lập của Việt Nam tại Bắc Bộ phủ cùng với Võ Nguyên Giám và Hoàng Minh Giám.
2. Trong khi đọc Tuyên ngôn Độc lập
Ngày 2-9-1945, từ sáng sớm, cả Hà Nội tưng bừng cờ đỏ sang vàng rợp trời, đèn hoa rực rỡ. Những biểu ngữ lớn bằng chữ Việt và các thứ chữ Pháp, Nga, Trung Quốc, Anh chăng khắp các đường phố: “Nước Việt Nam của người Việt Nam!”; “Độc lập hay là chết!”; “Ủng hộ Chính phủ lâm thời!”; “Ủng hộ Chính phủ HCM!”[3]. Quần chúng cách mạng vui mừng kéo tới quảng trường Ba Đình dự ngày lễ Độc lập. Đồng chí Võ Nguyên Giáp cùng ngồi trong chiếc xe Ford-V8 tháp tùng Chủ tịch HCM từ Bắc Bộ phủ đến vườn hoa Ba Đình. Đúng 14 giờ, các thành viên của Chính phủ, do  HCM dẫn đầu, bước lên lễ đài. Bài Tiến quân ca vang lên hùng tráng. Lá cờ đỏ sao vàng từ từ kéo lên. Một rừng cánh tay giơ lên chào, bàn tay nắm lại.
Một tài liệu mô tả lại hình ảnh của HCM lần đầu tiên, với tư cách là người đứng đầu Chính phủ lâm thời xuất hiện trong cuộc mít tinh và sơ lược diễn biến của buổi lễ Độc lập như sau: “Đó là một cụ già gầy gò, trán cao, mắt sáng, râu thưa. Cụ đội chiếc mũ đã cũ, mặc áo kaki cao cổ, đi dép cao su trắng. 14 giờ, trước hàng chục vạn đồng bào Thủ đô, trên diễn đàn cao và trang nghiêm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Lời của Bác điềm đạm, đầm ấm, khúc chiết, rõ ràng. Không phải là cái giọng hùng hồn người ta thường được nghe trong những ngày lễ long trọng. Nhưng người ta thấy ngay ở đó những tình cảm sâu sắc, ý chí kiên quyết; tất cả đều tràn đầy sức sống; từng câu, từng tiếng đi vào lòng người. Đọc bản Tuyên ngôn Độc lập đến nửa chừng, Bác dừng lại hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?”. Một triệu con người cùng đáp, tiếng dậy vang như sấm: “Co.o.ó”. Từ giây phút đó, Bác cùng với cả biển người đã hoà làm một”[4].
Đọc xong một đoạn và giữa những tiếng vỗ tay, tiếng hoan hô nhiệt liệt, Chủ tịch HCM dừng lại và nêu câu hỏi trên, theo tôi, đây là một điều thú vị. Câu hỏi của Người thật đặc biệt. Qua câu hỏi này chúng ta nhận thấy, HCM là một nhà diễn thuyết đại tài! Bởi chỉ với “Câu hỏi đơn giản này” mà Người đã “làm tiêu tan tất cả những cái gì còn xa cách giữa Chủ tịch và nhân dân, và làm thành một mối tình thắm thiết kết chặt lãnh tụ và quần chúng. Với câu hỏi lạ lùng này, không một ai ngờ Chủ tịch HCM đã từ bỏ tất cả lễ tiết, tất cả hình thức”, từ đây vị Chủ tịch đã “trở thành “Cha Hồ” của dân tộc Việt Nam… tất cả quần chúng cảm thấy sâu sắc lòng thương yêu của một người Cha, của Chủ tịch HCM với quần chúng, với nhân dân. Tất cả mọi người thấy Chủ tịch là một người như mình, gần mình, của mình, thân thiết với mình, một người thương yêu nhân dân với một lòng vô hạn”[5].
Câu nói trên được một số tài liệu trích dẫn có khác nhau về chi tiết. Trong sách “Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch” (Trần Dân Tiên), “Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn Độc lập” (Ths Vũ Thị Kim Yến, Nguyễn Văn Dương)[6] và “Hồ Chí Minh, Tiểu sử” (GS Song Thành chủ biên) về căn bản giống nhau (có thể do các tác giả sau khi biên soạn đã dựa vào cuốn sách của Trần Dân Tiên viết). Nhưng trong sách của Trần Trọng Đăng Đàn, câu khác so với ba hai tài liệu trên. Cụ thể: “Tôi nói thế đồng bào có nghe rõ không?”[7]. Ở chi tiết này, hiện tôi chưa có điều kiện xác minh câu trích nào chính xác với nguyên văn câu nói của HCM!
Tuyên ngôn Độc lập là kết tinh của biết bao tác phẩm trước đó của HCM, từ những Yêu sách của nhân dân An Nam (1919) đến Chương trình Việt Minh (1941), những văn kiện và chỉ thị, nghị quyết của Đảng ta. Tuyên ngôn Độc lập còn là “kết quả của những bản tuyên ngôn khác của các bậc tiền bối…, của bao nhiêu báo chí, truyền đơn bí mật viết bằng máu và nước mắt của những nhà yêu nước từ hơn tám mươi năm nay”, “là hoa là quả của bao nhiêu máu đã đổ và bao nhiêu tính mạng đã hy sinh của những người con anh dũng của Việt Nam trong nhà tù, trong trại tập trung, trong những hải đảo xa xôi, trên máy chém, trên chiến trường”, “là kết quả của bao nhiêu hy vọng, gắng sức và tin tưởng của hơn hai mươi triệu nhân dân Việt Nam”, “là một trang lịch sử vẻ vang Việt Nam. Nó chấm dứt chính thể quân chủ chuyên chế và chế độ thực dân áp bức. Nó mở một kỷ nguyên mới dân chủ cộng hoà”[8].
3. Nét đặc sắc trong Tuyên ngôn Độc lập
Vì Tuyên ngôn Độc lập là một văn kiện đặc biệt, nên từ khi nó ra đời đến nay đã có nhiều bài, tài liệu viết về nó. Các nhà nghiên cứu đã đi sâu khảo sát và phân tích Tuyên ngôn từ rất nhiều giác độ: văn học, sử học, triết học, chính trị học… Thông tin này xin giới thiệu bài viết của Trần Trọng Đăng Đàn, tiếp cận Tuyên ngôn Độc lập từ phương diện văn chính luận. Tác giả đã khảo sát và phát hiện nhiều điều thú vị trong bản Tuyên Ngôn Độc lập của HCM.
Trong bài: “Bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 và nghệ thuật viết văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh” nhà nghiên cứu Trần Trọng Đăng Đàn đã đếm được có cả thảy 1.010 chữ được, được sắp xếp thành 49 câu[9] làm nên bản Tuyên ngôn. Chỉ với có 1.010 chữ HCM đã tạo nên một văn bản chính luận tuyệt tác, bất hủ. Đọc Tuyên ngôn chúng ta thấy nội dung, tư tưởng đậm đặc trong từng câu, từng chữ. Toàn bộ lịch sử xã hội Việt Nam trong hơn 80 năm dưới ách cai trị của thực dân Pháp, rồi phát xít Nhật được khái quát chỉ trong 622 chữ. Trong đó, 186 chữ dành cho việc vận dụng pháp lý quốc tế suốt hơn một thế kỷ rưỡi để khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam, toàn bộ những trói buộc về mặt pháp lý mà thực dân Pháp đã tạo dựng ở Việt Nam gần một thế kỷ bị xoá bỏ chỉ trong một câu với 58 chữ. Còn sức mạnh Việt Nam, tương lai Việt Nam thì được khẳng định chỉ trong 144 chữ! Diễn đạt ngắn gọn, xúc tích, giản dị thuộc về quan điểm tuyên truyền của HCM. Quan điểm này xuất phát từ tư tưởng “lấy dân làm gốc”. Người luôn nói: “Viết cho đại đa số nhân dân đọc”, “viết để phục vụ quần chúng nhân dân”. Để đạt được mục đích ấy thì cần phải viết ngắn gọn, thật dễ hiểu. Vì thế mà trong 49 câu của Tuyên ngôn có tới 45 câu thuộc loại câu đơn giản, trong đó có một số câu rất ngắn, chỉ độ 10 chữ trở xuống. Câu ngắn, nhưng nội dung, tư tưởng lại đầy ắp.
Sau khi trích hai đoạn ngắn trong Tuyên ngôn Độc lập (1776) của nước Mỹ và trong Tuyên ngôn về Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp (1791), HCM hạ một câu gồm 10 chữ: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”. Ý nghĩa tổng kết của câu này thật cao, chính nghĩa được khẳng định một cách đanh thép. Câu thứ 19 tố cáo thực dân Pháp: “Chúng cướp không ruộng đất, hầm mỏ, nguyên liệu”, chỉ có 9 chữ. Còn câu thứ 13: “Chúng lập nhà tù nhiều hơn trường học”, cũng chỉ có 9 chữ. Câu thứ 11 còn ít hơn, chỉ với 8 chữ thôi: “Chúng thi hành những luật pháp dã man”. Câu thứ 15: “Chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu” chỉ dùng 12 chữ. Ngắn gọn như vậy nhưng sức tố cáo thật sắc bén. Đặc biệt, bức tranh toàn cảnh của phía kẻ thù trước bão táp Cách mạng đã được HCM vẽ lên bằng một câu rất ngắn: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”, với 9 chữ thôi mà thật là sinh động, thật sắc bén, làm hiện lên trước mắt người đọc, người nghe cả một cảnh tượng kẻ thù vừa tan tác, vừa tiêu điều, vừa thảm hại.
Đúng như tác giả đã nhận xét: “Đọc Tuyên ngôn Độc lập ta thấy: Lý lẽ, suy tư, luận giải của nhà khoa học, nhà văn, của sử gia, triết gia, luật gia, chính trị gia, kinh tế gia, v.v… được thể hiện thông qua suy nghĩ và ngôn từ của chỉ một lớp người – đó là quảng đại công chúng Việt Nam hồi Cách mạng Tháng Tám”[10]. Vì những lẽ trên, Tuyên ngôn Độc lập mãi mãi là áng văn bất hủ, một tài liệu – một di sản vô giá mà Chủ tịch HCM đã để lại cho dân tộc ta bên cạnh hai áng văn mang tính Tuyên ngôn bất hủ khác là: “Bài thơ thần” và “Bình ngô đại cáo”.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Ths Vũ Thị Kim Yến, Nguyễn Văn Dương: Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn Độc lập, Nxb Văn hoá Thông tin, 2009.
[2] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb Thanh niên, 2009.
[3] GS Song Thành: Hồ Chí Minh, Tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010.
[4] Trần Trọng Đăng Đàn: “Bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 và nghệ thuật viết văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, in trong Tuyển tập 20: Hồ Chí Minh, V.I. Lê-nin, C.Mác, Đảng Cộng sản và Việt Nam đổi mới, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2013.
[5] Nguyễn Ngọc Truyện (Sưu tầm và biên soạn): Hồ Chí Minh, cứu tinh dân tộc Việt, Nxb Thanh niên, 2008.
[6] Hồ Chí Minh: Tác gia, tác phẩm, nghệ thuật ngôn từ, Nxb Giáo dục, 2005.
[7] Hồ Chí Minh: Toàn tập, Xuất bản lần thứ ba, 4, 1945-1946, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011.
[8] A.L. Patti: Why Vietnam, Tại sao Việt Nam, Nxb Đà Nẵng, 2008.
Hà Nội, ngày 30-3-2014



[1] Ths Vũ Thị Kim Yến, Nguyễn Văn Dương: Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn Độc lập, Nxb Văn hoá Thông tin, 2009, tr. 34.
[2] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb Thanh niên, 2009, tr. 108.
[3] GS Song Thành: Hồ Chí Minh, Tiểu sử, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010, tr. 354.
[4] Ths Vũ Thị Kim Yến, Nguyễn Văn Dương: Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn Độc lập, Nxb Văn hoá Thông tin, 2009, tr. 48-50.
[5] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb Thanh niên, 2009, tr. 110-111.
[6] Dẫn theo Nguyễn Ngọc Truyện (Sưu tầm và biên soạn): Hồ Chí Minh, cứu tinh dân tộc Việt, Nxb Thanh niên, 2008, tr. 121.
[7] Trần Trọng Đăng Đàn: “Bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 và nghệ thuật viết văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, trong Tuyển tập 20: Hồ Chí Minh, V.I. Lê-nin, C.Mác, Đảng Cộng sản và Việt Nam đổi mới, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2013, tr. 40.
[8] Trần Dân Tiên: Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ Tịch, Nxb Thanh niên, 2009, tr. 108.
[9] Trần Trọng Đăng Đàn: “Bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 và nghệ thuật viết văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, trong Tuyển tập 20: Hồ Chí Minh, V.I. Lê-nin, C.Mác, Đảng Cộng sản và Việt Nam đổi mới, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2013, tr. 37.
[10] Trần Trọng Đăng Đàn: “Bản Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 và nghệ thuật viết văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh”, trong Tuyển tập 20: Hồ Chí Minh, V.I. Lê-nin, C.Mác, Đảng Cộng sản và Việt Nam đổi mới, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2013, tr. 42.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

BÃI BIỂN VÀ ẨM THỰC Ở NHẬT LỆ (QUẢNG BÌNH)

                                                                                                                 Chuyến khảo sát thực tế kết hợp với du lịch nghỉ mát hè năm 2014 do Khoa LLCT (TMU) tổ chức đã để lại trong tôi những ấn tượng khó quên về đất và người Quảng Bình. Ở tầm quốc gia, quốc tế thì hai danh thắng nổi tiếng là Phong Nha - Kẻ Bàng và động Thiên Đường (gần đây thêm mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp) là những điểm thu hút khách du lịch bốn phương. Nhưng ở mức khiêm tốn hơn có thể kể đến bãi biển Nhật Lệ cùng nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sư...

THĂM VĂN MIẾU MAO ĐIỀN (MỘT CHÚT SUY NGHĨ VỀ NHO HỌC)

                                                                                                                     1. Văn miếu là hiện tượng văn hoá xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc. Sau khi Khổng Tử chết, triều đình phong kiến cho sửa lại nơi ông ở để thờ cúng, gọi là Văn miếu. Cùng với sự phát triển, lan toả của Nho giáo, nhiều nước châu Á (Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam…) cũng dựng Văn miếu. Trên đất nước ta hiện còn nhiều Văn miếu tồn tại rải rác khắp ba miền, đó là   Văn Miếu Quốc Tử giám (Hà Nội), Văn Miếu Xích Đằng (Hưng Yên), Văn Miếu Mao Điền (Hải Dương), Văn Miếu Bắc Ninh, Văn Miếu Vin...

THƠ CHA MẸ GỬI CON

Nếu một mai thấy cha già mẹ yếu Hãy thương yêu và thấu hiểu song thân. Những lúc ăn mẹ thường hay vung vãi Hay tự cha không mặc được áo quần. Hãy nhẫn nại nhớ lại thời thơ ấu Mẹ đã chăm lo tã, áo, bế, bồng. Bón cho con từng miếng ăn, hớp sữa Cho con nằm trong nệm ấm chăn bông. Cũng có lúc con thường hay trách móc Chuyện nhỏ thôi mà mẹ nói trăm lần. Xưa kia bên nôi giờ con sắp ngủ, Chuyện thần tiên mẹ kể mãi không ngưng… Có lúc cha già không muốn tắm Đừng giận cha và la mắng nặng lời. Ngày con nhỏ, con vẫn thường sợ nước Từng van xin “đừng bắt tắm, cha ơi!” Những lúc cha không quen xài máy móc Chỉ cho cha những hướng dẫn ban đầu. Cha đã dạy cho con trăm nghìn thứ Có khi nào cha trách móc con đâu? Một ngày nọ khi mẹ cha lú lẫn Khiến cho con mất hứng thú chuyện trò Nếu không phải là niềm vui đối thoại Xin đến gần và hãy lắng nghe cha. Có những lúc mẹ không buồn cầm đũa Đừng ép thêm già có lúc biếng ăn Con cần biết...