1.
Khái niệm Chủ nghĩa dân tộc
Khái
niệm, thuật ngữ CNDT được sử dụng rất phổ biến trong các tài liệu liên quan đến
lĩnh vực lý luận chính trị, khoa học xã hội, nhân văn trên thế giới và ở Việt Nam .
Song bản thân nó lại hàm chứa những ngữ nghĩa, nội dung, nội hàm không phải lúc
nào cũng được hiểu giống nhau. Chẳng hạn:
- Trong Đại từ điển Tiếng Việt[1],
CNDT được giải thích là: “Hệ tư tưởng chính trị đối lập với chủ nghĩa
quốc tế, đặc trưng bằng tư tưởng cơ bản khẳng định dân tộc mình là ưu việt, là
hình thức thống nhất xã hội cao nhất, siêu giai cấp”.
- Từ điển bách khoa mở trên mạng (Wikipedia) cho rằng:
CNDT nói đến một hệ tư tưởng, một tình
cảm, một hình thức văn hoá, hoặc một phong trào tập trung vào quốc gia hay dân
tộc. CNDT đã trở thành một động lực
chính trị xã hội quan trọng nhất trong lịch sử. Nó đã giữ vai trò ảnh hưởng
chính hay nguyên nhân của Đệ nhất thế chiến, và đặc biệt là Đệ nhị thế chiến do
sự nổi lên của chủ nghĩa phát xít, một hệ tư tưởng dân tộc chủ nghĩa cấp tiến và
độc đoán. Do đa số các quốc gia là đa sắc tộc hoặc có nhiều nhóm tự nhận vị thế
quốc gia, trong nhiều trường hợp, sự theo đuổi quyền tự chủ mang tính dân tộc
chủ nghĩa đã gây ra xung đột giữa nhân dân và các nước, trong đó có chiến tranh
(cả nội chiến và ngoại chiến), ly khai và trong những trường hợp cực đoan là diệt
chủng. CNDT là một hiện tượng xã hội mạnh mẽ trên thế giới, khi các quốc kỳ, quốc
ca và những sự phân biệt quốc gia là những ví dụ về CNDT sáo rỗng (banal
nationalism) mà người ta thường thể hiện một cách vô thức. Hơn nữa, một số học
giả cho rằng, CNDT với hình thức tình cảm hoặc văn hoá, mà đôi khi được mô tả bằng
từ “bản sắc dân tộc” (nationality) để tránh ảnh hưởng của “hệ tư tưởng”, là nền
tảng của xã hội hiện đại. Công nghiệp hoá, dân chủ hoá và sự ủng hộ với sự tái
phân bổ kinh tế đã phần nào đóng góp cho sự đoàn kết xã hội mà CNDT mang lại.
- Từ điển bách khoa Việt Nam [1], tập 1, giải thích: CNDT (triết, chính trị), hệ tư tưởng chính trị và biểu hiện tâm
lý đòi quyền lợi độc lập, tự chủ và phát triển của cộng đồng quốc gia dân tộc.
CNDT hình thành và phát triển gắn liền với quá trình đấu tranh để xây dựng và bảo
vệ cộng đồng quốc gia dân tộc. Tuỳ tình hình, đặc điểm dân tộc, giai cấp và lịch
sử của từng dân tộc, CNDT mang dấu ấn dân tộc và giai cấp khác nhau. Có CNDT
truyền thống thể hiện lòng yêu nước lâu đời của một dân tộc, có CNDT tư sản, có
CNDT Xô viết, có CNDT sô vanh nước lớn, có CNDT cách mạng, v.v…
- Từ điển Triết học[1]:
Trong mục từ Dân tộc [Chủ nghĩa], khái niệm này được trình bày khá dài: Một
trong những nguyên tắc của hệ tư tưởng và chính trị tư sản nhằm tuyên truyền tính
biệt lập và tính đặc thù dân tộc của
một số dân tộc nào đó, sự ngờ vực của các dân tộc khác và sự thù địch giữa các
dân tộc. CNDT đã xuất hiện trong quá trình hình thành các dân tộc của xã hội tư
sản và bị chi phối bởi đặc điểm phát triển của CNTB. Ở đây, trong khi phản ánh
các quan hệ qua lại giữa các dân tộc trong CNTB, CNDT biểu hiện dưới hai hình
thức: chủ nghĩa sô-vanh nước lớn của dân tộc thống trị mà đặc điểm của nó là thái
độ miệt thị các dân tộc khác và CNDT địa phương của dân tộc bị áp bức tiêu biểu
với xu hướng bế quan toả cảng và ngờ vực các dân tộc khác. Đầu cơ về khẩu hiệu
quyền lợi “toàn dân tộc”, các nhà tư tưởng tư sản và cải lương sử dụng CNDT làm
một phương tiện tinh vi để đè bẹp ý thức giai cấp của nhân dân lao động, chia rẽ
phong trào công nhân quốc tế, bào chữa cho các cuộc chiến tranh giữa các dân tộc
và cho CNTD. Bất kỳ dưới hình thức nào, CNDT cũng đều không thể chấp nhận được đối
với nhân dân lao động, mà chỉ có chủ
nghĩa quốc tế XHCN mới phản ánh những quyền lợi chân chính của họ.
Tuy nhiên, trong một giai đoạn nhất định của phong trào
GPDT, những người cộng sản cho rằng việc ủng hộ CNDT của dân tộc bị áp bức là có
thể biện hộ được về mặt lịch sử, bởi vì CNDT của dân tộc bị áp bức chứa đựng
trong nó nội dung dân chủ chung (khuynh hướng chống CNĐQ, sự vươn tới độc lập về
kinh tế và chính trị). Song, trong biến thể này của CNDT cũng có cả mặt khác thể
hiện hệ tư tưởng và quyền lợi của nhóm cầm đầu bóc lột phản động muốn thoả hiệp
với CNĐQ. Những người cộng sản bác bỏ hoàn toàn mặt này. Với tính cách là đặc điểm
thế giới quan, CNDT phổ biến và có nhiều sức sống nhất trong môi trường tiểu tư
sản; nó là tiêu biểu cho các tầng lớp xã hội và các chính đảng có hệ tư tưởng
tiểu tư sản. Dưới CNXH, sự bình đẳng thực tế giữa các dân tộc đã được thiết lập,
những cơ sở xã hội của CNDT đã bị thủ tiêu, còn những biểu hiện của nó chỉ được
duy trì với tính cách là những tàn dư của CNTB trong ý thức và hành vi của con
người.
- Trong bài “Vấn đề hình thành dân tộc
và CNDT ở Việt Nam ”,
GS Phan Huy Lê cho rằng[1]: “CNDT (Nationalizm,
Nationnalizme)…là sản phẩm tinh thần của quá trình hình thành và phát triển của
dân tộc tư sản. CNDT đã từng giữ vai trò quan trọng trong cuộc đấu tranh chống
chế độ phong kiến, thống nhất quốc gia, dân tộc, giải phóng con người khỏi những
quan hệ lệ thuộc phong kiến, xây dựng xã hội dân sự và phát triển văn hoá dân tộc.
Tại các nước thuộc địa và lệ thuộc ở châu ¸,
châu Phi, châu Mỹ La tinh, trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ
nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc, CNDT cũng nảy sinh và phát triển, giữ vai
trò động lực trong phong trào giải phóng dân tộc.
Tại Việt Nam , CNDT cũng đã từng phát triển mạnh
mẽ trong thời kỳ chống chủ nghĩa thực dân. Nội dung cơ bản của CNDT Việt Nam là chủ nghĩa
yêu nước truyền thống được nâng cao trên cơ sở kết hợp với những nhân tố mới của
thời đại, trong bối cảnh và yêu cầu chống chủ nghĩa thực dân, giải phóng dân tộc…
Tuy nhiên, trên bình diện lịch sử thế giới, CNDT bên cạnh nội dung chân chính và
tích cực của nó, cũng chứa đựng những khuynh hướng phát triển tiêu cực theo chủ
nghĩa sô vanh (chauvinisme), CNDT hẹp hòi, CNDT cực đoan, chủ nghĩa phân biệt
chủng tộc… Trong nhiều vụ xung đột dân tộc, sắc tộc, tôn giáo trên thế giới hiện
nay, CNDT theo các xu hướng tiêu cực trên đang bị khai thác và kích động. Vì vậy,
trong cách hiểu thông thường và phổ biến hiện nay, CNDT hay phần tử dân tộc
(nationalist) được hiểu theo nghĩa tiêu cực”.
2. Chủ nghĩa dân tộc trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Nếu tìm trong các trước tác của Hồ Chí Minh, chúng
ta thấy khái niệm CNDT trong các bài sau: “Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ”,
“Văn minh Pháp ở Đông Dương”, “Hãy nhớ đến những người bị tù đày vì chính trị của
chúng ta”, “Các sự biến ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi” (các ngày:
24/12/1926, 31/1/1927, 14/2/1927), “Lời phát biểu tại Hội nghị đại biểu các Đảng
cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ nghiã”.
Để nhận thức đúng đắn, đầy đủ về CNDT trong TTHCM, cần
thiết phải phân tích các tài liệu trên đồng thời kết hợp với xem xét ý kiến của
các nhà khoa học, các chính khách trong và ngoài nước nói về vấn đề này.
Trong “Báo cáo về Bắc kỳ, Trung kỳ và Nam kỳ”, CNDT được nhắc tới 10 lần.
Như đã giới thiệu ở trên, khái niệm CNDT được HCM sử dụng rải rác trong một số
tài liệu và ở những thời điểm khác nhau (thập niên 20 và thập niên 50 của thế kỷ
XX). Song giới nghiên cứu khi bàn về CNDT trong TTHCM thì dường như chủ yếu tập
trung đề cập đến tài liệu này. Có lẽ đây là tài liệu quan trọng nhất, là cơ sở
mà dựa vào đó các nhà nghiên cứu đã khái quát lên một luận điểm lớn mang tính sáng
tạo của HCM về CNDT - “Chủ nghĩa dân tộc là động lực lớn ở các nước đang đấu
tranh giành độc lập”. Trong bài “Văn minh Pháp ở Đông Dương”, khái niệm CNDT được
sử dụng duy nhất một lần trong câu: “Trong lần trở về nước của lãnh tụ những người
theo chủ nghĩa dân tộc Bùi Quang Chiêu, khi đó đã trở thành một kẻ thoả hiệp nổi
tiếng xấu xa…”[1]. Tương tự trong bài “Hãy nhớ đến
những người bị tù đày vì chính trị của chúng ta”, khái niệm CNDT cũng được dùng duy nhất một lần, gắn với nội dung “Đông kinh nghĩa thục”: “Như thế này: thời
bấy giờ có một hội lớn theo chủ nghĩa dân tộc gọi là “Đông kinh nghĩa thục”. Được
thành lập do các nho sĩ có danh vọng nhất ở Bắc kỳ…”[1].
Trong 3 tài liệu đều mang tựa đề “Các sự biến
ở Trung Quốc của đặc phái viên của chúng tôi” đã nói ở trên, với nội
dung cơ bản là phản ánh tình hình chính trị và phong trao đấu tranh cách mạng ở
Trung Quốc của Hồ Chí Minh. Trong các tài liệu này, khái niệm CNDT, DTCN (dân tộc chủ nghĩa) được
nhắc đi nhắc lại nhiều lần và được dùng để
phản ánh phong trào đấu tranh giành độc lập của nhân dân Trung Quốc dưới
những ngọn cờ khác nhau, nhưng có nội dung chung là đấu tranh hướng tới mục tiêu
giành độc lập, tự do trên cơ sở chống chủ nghĩa đế quốc thực dân. Trong “Lời phát
biểu tại Hội nghị đại biểu các Đảng cộng sản và công nhân các nước xã hội chủ
nghĩa”, HCM có dùng khái niệm CNDT bên cạnh các khái niệm Chủ nghĩa sôvanh,
Chủ nghĩa giáo điều, Chủ nghĩa xét lại. Song trong tài liệu này, CNDT được dùng gắn liền với từ tư sản - CNDT tư sản[1]…
Vậy CNDT trong TTHCM rốt cục là gì? nên hiểu như thế nào
cho đúng? Trong sách “Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam”,
“Nghiên cứu, học tập và làm theo tư tưởng Hồ Chí Minh”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp
cho rằng: CNDT theo Hồ Chí Minh, hoàn toàn không phải là thứ chủ nghĩa dân tộc
phong kiến, tư sản hay của Quốc tế II, mà là CNDT chân chính, theo lập trường
chủ nghĩa Mác-Lênin gắn dân tộc với quốc tế, dân tộc với giai cấp, hướng tới
triệt để giải phóng dân tộc, giải phóng xã hội, giải phóng con người”[1].
Khi bàn về CNDT trong TTHCM, GS Song Thành đã viết: “Chủ nghĩa dân tộc Hồ Chí Minh nói ở đây là chủ nghĩa dân tộc chân chính của nhân dân các dân tộc thuộc địa đang đấu tranh chống chủ nghĩa
đế quốc, lại được phát động nhân danh quốc tế cộng sản và đang hướng theo chủ
nghĩa quốc tế vô sản nên nó khác về bản chất so với chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, sô
vanh của phong kiến và tư sản”[1].
Trong Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí Minh của Bộ Giáo dục và Đào tạo, do nhà xuất bản
Chính trị quốc gia phát hành năm 2009 có viết: “Hồ Chí Minh thấy rõ sức mạnh của
chủ nghĩa dân tộc với tư cách là chủ nghĩa yêu nước chân chính của các dân tộc
thuộc địa. Đó là sức mạnh chiến đấu và thắng lợi trước bất cứ thế lực ngoại xâm
nào”[1].
3. Kết luận
Như vậy, có thể nói rằng: Bên cạnh việc HCM sử
dụng khái niệm CNDT để biểu đạt những sắc thái, nội dung khác nhau về tư tưởng,
tình cảm, phong trào đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân để
giành độc lập dân tộc thì về cơ bản CNDT trong tư tưởng HCM mang hàm ý CNDT chân chính, với nội dung cốt lõi là
tinh thần yêu nước, chủ nghĩa yêu nước chân chính của dân tộc Việt Nam và các
dân tộc đang đấu tranh giành độc lập khác.
Tài
liệu tham khảo
01. Nguyễn Như Ý (Chủ biên): Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá thông tin, HN, 1998.
02.
HĐ quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam :
Từ điển bách khoa Việt Nam , 1, Trung tâm biên soạn tư điển bách
khoa Việt Nam ,
HN, 1995.
03. Từ
điển triết học (bản tiếng Việt), Nxb Tiến bộ Mát-xcơ-va, 1986.
04. Trên http://www.ussh.edu.vn, chuyên mục Không gian học thuật.
05. Hồ
Chí Minh, Toàn tập, 2 (1924-1930), Nxb CTQG, HN, 2000, tr. 234.
06. Hồ
Chí Minh, Toàn tập, 2 (1924-1930), Nxb CTQG, HN, 2000, tr. 238.
07. Hồ
Chí Minh, Toàn tập, 8 (1955-1957), Nxb CTQG, HN, 2000, tr. 584.
08. Đại tướng Võ Nguyên Giáp (Chủ biên): Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng
Việt Nam ,
Nxb CTQG, Hà Nội, 2000, tr. 88.
09. GS Song Thành: Hồ Chí Minh, nhà tư tưởng lỗi lạc, Nxb Lý luận chính trị, 2005, tr.
583.
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo: Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb CTQG, 2009,
tr. 63.
Hà Nội,
ngày 25/04/2009
Nhận xét
Đăng nhận xét