Chuyển đến nội dung chính

KHỔNG TỬ ĐÂU CÓ KỲ THỊ PHỤ NỮ!


1. Khi đọc một số tài liệu liên quan đến Nho giáo tôi thấy có câu chuyện cần nêu ra bàn lại với quý độc giả. Đó là có nhiều người đã lên án, kết tội Đức Khổng Tử “kỳ thị phụ nữ”. Có đúng Đức Khổng Tử là người kỳ thị phụ nữ không?
Muốn khẳng định hoặc phủ định chuyện Khổng Tử “kỳ thị phụ nữ” ta cần lần lại xuất xứ của vấn đề. Theo tôi, người đời kết tội Khổng Tử kỳ thị phụ nữ đã dựa vào hai phát ngôn sau đây: “Tử viết: Duy nữ tử dữ tiểu nhân, vi nan dưỡng dã. Cấn chi tắc bất tốn, viến chi tắc oán”[2]; “Dĩ vi ngạ tử sự tiểu, thất tiết đại sự”[3]. Trong hai phát ngôn trên thì phát ngôn đầu là của Khổng Tử, còn phát ngôn sau, không phải.
Phát ngôn đầu được chép trong thiên thứ XVII (Dương hoá), chương XXV sách Luận Ngữ. Về chữ Hán không có gì phải bàn, nhưng khi phiên âm ra tiếng Việt ta thấy có chút khác nhau giữa các tài liệu. Theo sách Luận ngữ do Chu Hy tập chú, câu này được phiên âm là: “Tử viết: “Duy nữ tử dữ tiểu nhân, vi nan dưỡng dã. Cấn chi tắc bất tốn, viến chi tắc oán””. Trong khi đó, một số tài liệu khác (như sách Nghiên cứu và tranh luận) thì câu này được phiên là: “Duy nữ tử dữ tiểu nhân nan dưỡng dã, cận chi tắc bất tốn, viễn chi tắc oán”[4]. Có sự khác nhau về tiểu tiết khi phiên âm câu này trong hai tài liệu. Tuy nhiên điều đó không quan trọng, mà quan trọng là phần dịch nghĩa của hai văn bản này như thế nào. Nếu dịch nghĩa sang tiếng Việt các chữ thiếu chính xác thì việc hiểu sai lạc tư tưởng của tiền nhân là điều khó tránh khỏi!
Tác giả sách Nghiên cứu và tranh luận đã dịch sang tiếng Việt câu trên như sau: “Chỉ có đàn bà con gái tiểu nhân là khó nuôi dạy, gần thì chúng nhờn, xa thì chúng oán”. Câu này khi phiên dịch theo sách của Chu Hy thì là: “Chỉ có hạng tỳ thiếp và hạng tôi tớ là khó đối đãi. Nếu thân cận thì họ khinh nhờn, nếu sơ viễn thì họ oán hận”[5]. Như vậy có sự hiểu khác nhau các chữ: “nữ tử” và “tiểu nhân”. Trong khi tác giả Nghiên cứu và tranh luận và nhiều người khác hiểu chữ “nữ tử” là phụ nữ, đàn bà nói chung và chữ “tiểu nhân” là loại người thấp hèn, kém cỏi đối lập với “quân tử” thì Chu Hy (cùng nhiều học giả khác) hiểu hai chữ “nữ tử” là tỳ thiếp, đầy tớ gái, còn “tiểu nhân” là đầy tớ trai. Ta xem chú giải của Chu Hy thì rõ: “Tiểu nhân nơi đây là hạng tôi tớ. Người quân tử đối với hạng tỳ thiếp (nàng hầu, vợ lẽ) và đầy tớ trai, cư xử bằng cách nghiêm trang, nuôi dạy bằng cách hiền từ, thì không có hai điều lo kể trong chương này”. Chu Hy là một trong những môn đệ xuất sắc của Khổng Tử ở thời đại sau (thế kỷ XII), người đã phát triển Nho giáo thời Nam Tống. Một người am hiểu Nho thuật như Chu Hy liệu có hiểu lầm tư tưởng Đức Khổng Tử không? Tôi cho là Chu Hy không hiểu sai lời của Khổng Tử. Hai cách dịch - hai cách hiểu trên đây khác nhau nhiều lắm. Chính vì hiểu hai chữ “nữ tử” và “tiểu nhân” theo nghĩa mở rộng nên sinh ra sự hiểu lầm đáng tiếc trên đây. Từ đó khiến nhiều người không thể thông cảm với Khổng Tử và đã lên án, kết tội Ngài có tư tưởng kỳ thị phụ nữ (!).
Dịch giả Lê Phục Thiện có đoạn chua thêm sau phần nội dung phiên âm, dịch nghĩa của Chu Hy như sau: “Nghĩa đen hai chữ nữ tử là con gái, nhưng sách “Ngôn văn đối chiếu Luận ngữ” giải nghĩa là tỳ thiếp, sách “Tứ thư bạch thoại cú giải” giải nghĩa là phụ nữ không có trí thức. Sách “Quảng giải Tứ thư độc bản” giải thích nghĩa hai chữ “nan dưỡng” là khó đối đãi (cư xử, tiếp đãi). Phản nghĩa của thân cận (thân mật, gần gũi) là sơ viễn (sơ xài, xa cách)”[6].
Đoạn văn trên đã cung cấp thêm cho chúng ta hai tài liệu với hai cách hiểu khác đối với chữ “nữ tử”. Một tài liệu giải thích nghĩa “nữ tử” là con gái, còn tài liệu kia giải thích là tỳ thiếp. Như vậy, những tài liệu vừa dẫn ra trên đây đều hiểu và giải thích chữ “nữ tử” theo nghĩa hẹp và cụ thể (con gái, tỳ thiếp…), còn sách Nghiên cứu và tranh luận (cùng một số tài liệu khác) lại hiểu “nữ tử” theo nội hàm rộng nhất của khái niệm thành phụ nữ hay đàn bà nói chung!
2. Phan Bội Châu trong sách Khổng học đăng đã chú giải chữ này khá cặn kẽ: “Ngài nói rằng ở trong các hạng người, có hai hạng người chúng ta cần phải nuôi nấng lấy họ; như hạng con gái với hạng tôi tớ (duy nữ tử dữ tiểu nhân). Thật là khó nuôi nấng họ cho thật đúng cách (vi nan dưỡng dã). Bởi vì hai hạng người ấy, trí thức họ không được cao, mà những điều họ trách vọng với mình thời lại khó cho đầy đủ, nên mình đối với họ vẫn là ân nhân mà không nên tỏ ý lờn lã, vẫn nghiêm trang mà cũng không tỏ ý ghét bỏ; nếu lờn lã với nó mà gần nó, thời nó “bất tốn” ngay (cận chi tắc bất tốn). “Bất tốn”, nghĩa là không kính nhường. Nếu có ý ghét bỏ mà xa nó thời gây ra mối thù oán (viễn chi tắc oán). Chữ “nữ tử” với chữ “tiểu nhân” ở đây khác với mọi nơi: ở mọi nơi là nói bằng hàng người phổ thông; ở đây thời nói bằng hạng người đặc biệt. “Nữ tử” là chỉ vào hạng người dựa cậy vào mình mà thuộc về con gái; “tiểu nhân” là cung cấp việc sai sử cho mình. Vì những hạng người ấy là hạng mà mình phải nuôi, nên có chữ “dưỡng”. Chỉ duy nuôi họ mà đúng cách thời có ơn, nuôi họ mà không đúng cách thời chẳng những không ơn mà lại có oán, nên nói rằng “nan dưỡng””[7].
Nhóm các nhà nghiên cứu Trung Quốc đương đại cũng đồng cách hiểu như các sách trên: “Chỉ có hạng tỳ thiếp và hạng tôi tớ là khó đối xử. Nếu thân mật, gần gũi thì bọn họ dễ khinh nhờn. Còn nếu xa cách nghiêm nghị thì bọn họ oán giận”. “Đây là Khổng Tử dạy người ta cách cư xử với người dưới: sâu sắc quá không được mà nông cạn quá cũng không được, gần gũi quá cũng không được mà xa quá cũng không được. Muốn đối xử đứng đắn, phải giữ được khoảng cách tâm lý thích đáng, đó là yêu nhưng không chiều, thân cận gần gũi mà không nhu nhược, xa mà không dứt tình. Người ta đối với người dưới biết cư xử nghiêm trang, nuôi dạy bằng cách hiền từ thì chẳng lo gì những điều đã nêu ở trên”[8].
Theo Phan Ngọc: “Vào thời Xuân Thu - Chiến quốc, “tử nữ” mang một nghĩa rất hẹp là “đầy tớ gái, cô hầu, thiếp” chứ không có nghĩa là “phụ nữ nói chung””. Khổng Tử rất biết giá trị của phụ nữ… thể hiện trong câu: “Tài năng khó tìm, đó chẳng phải là sự thật sao? Trong đời Nghiêu, đời Thuấn thịnh trị như vậy, mà có một người đàn bà (mẹ của Văn Vương) và chỉ chín người đàn ông mà thôi (Chương VIII, Thái Bá). Như vậy, không thể nói Khổng Tử coi nhẹ phụ nữ ngay trong tài trị nước”[9]. Phan Ngọc bộc bạch: Đời tôi đã nghe những lời chỉ trích Khổng Tử như thế (kỳ thị phụ nữ) mà đành im lặng vì nói ra không tiện. Tôi trình bày ở đây những lời giải thích của tôi có bằng chứng rõ ràng để bác bỏ cho hợp lẽ hơn.
Lý Minh Tuấn trong sách Tứ thư bình giải cũng cùng quan điểm với các học giả nói trên, khi ông viết: “Đức Khổng Tử nói: “Chỉ riêng bọn tớ gái và tớ trai là khó đối đãi. Gần gũi thì họ khinh nhờn; xa cách thì họ oán giận”. Ông còn bình luận thêm: “Đám tớ gái, tớ trai là những người thuộc giới nghèo khó, ít học hoặc không học cho nên kém hiểu biết, kém văn hoá và thiếu lễ nghĩa. Nếu người chủ thương xót họ thì họ khinh nhờn, có khi xử ngang hàng với chủ. Nếu người chủ cư xử xa cách, nghiêm trang với họ thì họ oán giận, cho rằng bị khinh bỉ”[10].
Khi bình luận lời Khổng Tử, Hoàng Nha Phương trong sách Khổng tử tinh hoa trí tuệ qua danh ngôn đưa ra cách lý giải có vẻ dung hoà, nhưng cấp thêm tài liệu để chúng ta suy nghĩ về vấn đề đang thảo luận: “Câu trên đây là một câu nói đùa, vì Khổng Tử là một người quản gia nghiêm nên mới phát ra một câu than như vậy; về sau người ta cũng thấy khó chú giải câu này và nghiên cứu thấy Khổng Tử có đời sống hôn nhân không được hạnh phúc mỹ mãn (chữ “nữ” trong câu này chỉ người vợ lẽ chứ không chỉ phụ nữ nói chung). Về vấn đề nam nữ ít thấy Khổng Tử nói đến trong luận ngữ, vào thời đó vấn đề nữ quyền chưa được quan tâm và người phụ nữ không thể nào có được địa vị bình đẳng với nam giới”[11].
3. Các tài liệu trên mới chỉ bác bỏ việc cho Khổng Tử tội kỳ thị phụ nữ trên phương diện tư tưởng, còn cuốn Nhân học tản mặc của Cừu Bái Nhiên đã minh oan cho Khổng Tử cả về phương diện tư tưởng lẫn hành động.
Sách này viết: người ta đã gán ghép câu nói “chết đói là chuyện nhỏ, thất tiết là chuyện lớn” (dĩ vi ngạ tử sự tiểu, thất tiết sự đại) của người đời sau cho Đức Khổng Tử. Chính Trình Di là người đã chủ trương “diệt dục con người, bảo tồn thiên lý”, đồng thời tuyên truyền cho tư tưởng “chết đói là chuyện nhỏ, thất tiết là chuyện lớn”. Câu này nằm trong Thư viết cho Trần Sư Trung của Chu Hy: “Vào lúc ấy, khi Y Xuyên tiên sinh bàn đến chuyện này nói: chết đói là chuyện nhỏ, thất tiết là chuyện lớn”. Câu nói này về sau “tàn hại vô số phụ nữ con nhà lành, giấy trắng mực đen, rõ ràng như vậy nhưng có nhiều người theo thói quen lấy Khổng Tử làm đại biểu cho tư tưởng kì thị phụ nữ, thực ra là một dạng mù quáng ăn theo chưa từng suy nghĩ kĩ”[12].
Cừu Bái Nhiên còn dẫn ra và phân tích ba việc làm của Đức Khổng Tử để chứng minh Ngài là người không hề “kỳ thị phụ nữ”:
- Một là: Vào thời đại Khổng Tử, việc cưới vợ nạp thiếp vô cùng tự do, cha của ông cưới hai người vợ, còn lấy thêm một nàng thiếp; nhưng Khổng Tử suốt đời chỉ cưới bà Kỳ Quan. Tuy Khổng Tử không thuộc hàng ngũ giai cấp chủ nô, nhưng do học trò đông, trước khi ra làm quan, cuộc sống của Khổng Tử tương đối đầy đủ. Làm quan được 5 năm, chức vụ cao nhất của Khổng Tử là “Ti khấu”, nhiếp tướng sự (bổng lộc một năm sáu vạn túc); nhưng ông cũng không nạp thêm thiếp, điều này cho thấy ông rất tôn trọng bà Kỳ Quan. Về sau vì phải thực hiện chí hướng chính trị ông thăng trầm phiêu bạt bên ngoài hết 14 năm, vợ bệnh chết tại quê nhà, ông vô cùng thương xót, trường hợp này vào thời ấy là rất hiếm có và đáng quý.
- Hai là: Khi chọn rể cho con và cháu gái, Khổng Tử rất coi trọng phẩm đức, khinh thường địa vị, luôn khoan dung cởi mở. Công Trị Trường tuy từng là tù nhân nhưng Khổng Tử cho rằng “không phải tội của anh ta”, tuy gặp cảnh hiểm hại nhưng lại là một thanh niên có phẩm chất tốt, bèn đem con gái gả cho. Còn Nam Dung có thể nhìn việc nước hưng suy để quyết định việc mình có nên ra làm quan hay không, lại là người xem trọng việc tu dưỡng đạo đức, Khổng Tử bèn gả cháu gái cho.
Với tiếng tăm của Khổng Tử lúc bấy giờ, muốn tìm một người “đa tài” hoặc dòng dõi khanh tướng làm con rể không phải là chuyện khó; nhưng việc “chọn rể có đức” đã thể hiện rõ thái độ có trách nhiệm của Khổng Tử đối với con cái trong gia tộc và trở thành thước đo chuẩn mực vẫn luôn được xã hội ca tụng đến ngày nay.
- Ba là: Thái độ của Khổng Tử đối với con dâu cũng được mọi người thời đó ca ngợi. Khổng Lý (Bá Ngư) con trai Khổng Tử chẳng may mất sớm, con dâu còn trẻ. Năm đó, Khổng Tử sắp 70 tuổi, cháu còn nhỏ, xét về lý ông có đủ lý do để yêu cầu con dâu ở lại chăm sóc người già và trẻ em; nhưng Khổng Tử đã không làm thế. Ông rất tôn trọng nguyện vọng của con dâu nên đã đồng ý cho cải giá. Khổng Tử đã xử sự theo đúng tư tưởng nhân bản của mình - “Phù nhân giả, kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân” (Phàm là người có lòng nhân, điều mình muốn làm thì làm cho người, điều mình muốn đạt tới thì khiến người đạt tới).
Những việc làm trên cho thấy rõ nhân cách con người Khổng Tử đối với phụ nữ. Ta không có cơ sở để khẳng định câu “chết đói là chuyện nhỏ, thất tiết là chuyện lớn” là do Khổng Tử chủ trương và cổ suý trong lịch sử Trung Quốc.
4. Bấy nhiêu chứng cứ đủ để minh oan cho Khổng Tử về tội kỳ thị phụ nữ, khinh thường phái đẹp. Tư tưởng của Ngài ra đời cách ngày nay hơn 2.500 năm, nhiều nội dung đã không còn phù hợp nữa, chúng ta cần phê phán, không theo. Tuy vậy, với những tinh hoa trong tư tưởng của Ngài chúng ta không thể không khai thác, phát huy. Để làm tốt điều này phải có thái độ khách quan, khoa học để tránh những ngộ nhận (đáng tiếc) như đã từng xẩy ra trong quá khứ!
(Đã đăng TC Dạy và Học ngày nay, 1-2015)



[2] - Chu Hy Tập chú: Luận Ngữ, Nxb Văn học, 2002, tr. 706.
[3] - Dẫn theo Cừu Bái Nhiên: Nhân học tản mặc, Nxb Tổng hợp Tp Hồ Chí Minh, 2011, tr. 33.
[4] - Trần Khuê: Nghiên cứu và tranh luận, Nxb Văn hoá thông tin, 2010, tr. 340.
[5] - Chu Hy Tập chú: Luận Ngữ, Nxb Văn học, 2002, tr. 706.
[6] - Chu Hy Tập chú: Luận Ngữ, Nxb Văn học, 2002, tr. 706-707.
[7] - Sào Nam Phan Bội Châu: Khổng học đăng, Nxb Văn hoá thông tin, 1998, tr. 147.
[8] - Dương Hồng, Vương Thành Trung…: Tứ thư, Nxb Quân đội nhân dân, 2003, tr. 493-494.
[9] - Phan Ngọc: Bản sắc văn hoá Việt Nam, Nxb Văn hoá thông tin, 2004, 161-162.
[10] - Lý Minh Tuấn: Tứ thư bình giải, Nxb Tôn giáo, 2011, tr. 443.
[11] - Hoàng Nha Phương: Khổng Tử tinh hoa trí tuệ qua danh ngôn, Nxb VHTT, 2008, tr. 99.
[12] - Cừu Bái Nhiên: Nhân học tản mặc, Nxb Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2011, tr. 33-34.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

BÃI BIỂN VÀ ẨM THỰC Ở NHẬT LỆ (QUẢNG BÌNH)

                                                                                                                 Chuyến khảo sát thực tế kết hợp với du lịch nghỉ mát hè năm 2014 do Khoa LLCT (TMU) tổ chức đã để lại trong tôi những ấn tượng khó quên về đất và người Quảng Bình. Ở tầm quốc gia, quốc tế thì hai danh thắng nổi tiếng là Phong Nha - Kẻ Bàng và động Thiên Đường (gần đây thêm mộ Đại tướng Võ Nguyên Giáp) là những điểm thu hút khách du lịch bốn phương. Nhưng ở mức khiêm tốn hơn có thể kể đến bãi biển Nhật Lệ cùng nhiều danh lam thắng cảnh, di tích lịch sư...

THĂM VĂN MIẾU MAO ĐIỀN (MỘT CHÚT SUY NGHĨ VỀ NHO HỌC)

                                                                                                                     1. Văn miếu là hiện tượng văn hoá xuất hiện đầu tiên ở Trung Quốc. Sau khi Khổng Tử chết, triều đình phong kiến cho sửa lại nơi ông ở để thờ cúng, gọi là Văn miếu. Cùng với sự phát triển, lan toả của Nho giáo, nhiều nước châu Á (Đài Loan, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam…) cũng dựng Văn miếu. Trên đất nước ta hiện còn nhiều Văn miếu tồn tại rải rác khắp ba miền, đó là   Văn Miếu Quốc Tử giám (Hà Nội), Văn Miếu Xích Đằng (Hưng Yên), Văn Miếu Mao Điền (Hải Dương), Văn Miếu Bắc Ninh, Văn Miếu Vin...

THƠ CHA MẸ GỬI CON

Nếu một mai thấy cha già mẹ yếu Hãy thương yêu và thấu hiểu song thân. Những lúc ăn mẹ thường hay vung vãi Hay tự cha không mặc được áo quần. Hãy nhẫn nại nhớ lại thời thơ ấu Mẹ đã chăm lo tã, áo, bế, bồng. Bón cho con từng miếng ăn, hớp sữa Cho con nằm trong nệm ấm chăn bông. Cũng có lúc con thường hay trách móc Chuyện nhỏ thôi mà mẹ nói trăm lần. Xưa kia bên nôi giờ con sắp ngủ, Chuyện thần tiên mẹ kể mãi không ngưng… Có lúc cha già không muốn tắm Đừng giận cha và la mắng nặng lời. Ngày con nhỏ, con vẫn thường sợ nước Từng van xin “đừng bắt tắm, cha ơi!” Những lúc cha không quen xài máy móc Chỉ cho cha những hướng dẫn ban đầu. Cha đã dạy cho con trăm nghìn thứ Có khi nào cha trách móc con đâu? Một ngày nọ khi mẹ cha lú lẫn Khiến cho con mất hứng thú chuyện trò Nếu không phải là niềm vui đối thoại Xin đến gần và hãy lắng nghe cha. Có những lúc mẹ không buồn cầm đũa Đừng ép thêm già có lúc biếng ăn Con cần biết...