Ở Trung Quốc (và cả Việt Nam) người ta gọi
Khổng Tử là “Vạn thế sư biểu” (Người thầy của muôn đời). Khổng Tử
là nhà tư tưởng, nhà giáo dục vĩ đại. Chu Văn An không có tầm kích
như Khổng Tử, nhưng ở một số khía cạnh về giáo dục, ta vẫn có thể xem
ông như “Vạn thế sư biểu” của Việt Nam.
1. Chính sử chép tên ông là CHU AN, song trong nhiều
tài liệu không hiểu sao người ta đều gọi ông là CHU
VĂN AN. Phải chăng điều này bắt nguồn từ họ tên thân phụ ông (?). [Bố Chu
Văn An là Chu Văn Hưng – người Tàu, do chạy loạn Mông Cổ sang Đại Việt
lấy vợ làng Thanh Liệt - bà Lê Thị Chiêm].
Về thời gian sinh và mất (với đầy đủ dữ kiện
– ngày tháng năm) của Chu Văn An hiện không có tài liệu nào cho biết
đầy đủ và chính xác. Ngay năm sinh của ông nhiều sách biên soạn cũng
bỏ trống, còn mất thì đều ghi năm 1370.
Ông sinh ra và lớn lên ở thôn Văn, xã Quang Liệt,
huyện Thanh Đàm – Nay là thôn Văn, xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, Hà
Nội [05, 71]. Thuở chưa trưởng thành, Chu Văn An được mẹ nuôi dưỡng ăn
học. Theo sử sách cho biết, ông là người thông minh, lại rất chăm học
nên sớm nổi danh. Sách Đăng khoa lục
nói ông thi đỗ Thái học sinh (tiến sĩ), song không ra làm quan mà ở
nhà mở trường dạy học. Nhiều người tin Đăng khoa lục, nên khi viết sách thường nói về ông theo tinh
thần này. Chỉ cố GS Trần Quốc Vượng là có ý kiến khác, ông viết: “Cho
đến nay, chưa có tài liệu nào thuyết phục được tôi là CHU AN đậu
thái học sinh nhưng không chịu ra làm quan, ở nhà dạy học. Tôi cho là
ông tự học rồi làm thầy đồ làng quê, dần dần nổi tiếng” [03, 559]. Nếu
đúng như GS Vượng nói thì Chu Văn An quả
là một nhân tài hiếm thấy, do tự học mà thành danh, lại rất nổi
tiếng khi làm nghề dạy học.
Chu Văn An dựng trường trên gò lớn giữa đầm để
dạy học. Do danh tiếng của ông rất nổi và vang xa, nên khắp nơi học
trò kéo đến theo học. Trường Huỳnh Cung không chỉ thu hút học trò
bản địa (Hà Đông), Thăng Long, Kinh Bắc, Sơn Nam mà còn thu hút cả những
người từ Hồng Châu (Hải Dương), Ái Châu (Thanh Hoá), Hoan Châu (Nghệ An)…
đến học. Chu Văn An dạy giỏi, nổi tiếng đến mức gợi cảm hứng cho dân
gian sáng tạo cả một huyền thoại về hai con vua Thuỷ vùng Đầm Rồng
(Long Đàm, tên huyện thời Trần) hoá hiện thành người đến thụ giáo. Hai
người học trò này đã vâng lời thầy (trái lệnh trời nên sau đó bị
chết chém) để làm mưa cứu dân chúng trong vùng qua cơn hạn hán... Quả
là một huyền thoại hay ca ngợi sự nổi tiếng của thầy Chu Văn An. Nhưng
một số nhà nghiên cứu lại nhận ra đây là tàn tích của phương thuật
cầu mưa – một phương thuật khá nổi tiếng của cư dân trồng lúa nước - người
Việt cổ ẩn chứa trong huyền tích này [03, 550].
Học trò của ông có rất nhiều người hiển đạt,
trong đó có hai người giữ chức quan to trong triều Trần là Lê Bá Quát
và Phạm Sư Mạnh.
2. Để dạy học, Chu Văn An đã biên soạn bộ Tứ thư thuyết ước (gồm 10 quyển). Đây
là bộ sách luận giải bộ Tứ thư
của Trung Quốc. Thời xưa người đi học được dạy kiến thức từ hai bộ
kinh điển – Tứ thư và Ngũ kinh của Nho giáo.
Tứ thư, Ngũ kinh truyền vào Việt Nam từ bao
giờ, chưa xác định được chính xác. Song, kể từ thế kỷ I đến thời
Trần, có nhiều người nước ta theo Nho học nên đã làm quen với hai bộ
sách này. Thời Trần, mặc dù Nho học chưa chiếm thế thượng phong nhưng
nó đã được chú trọng hơn trước nhiều. Tứ thư thuyết ước ra đời trong bối cảnh lịch sử đó. Bộ
sách tóm lược tinh hoa của 4 cuốn giáo khoa thư của Nho gia xưa là:
Luận ngữ, Mạnh tử, Đại học và Trung dung. Tứ thư thuyết ước nay không
còn vì theo GS Trần Quốc Vượng, sách “đã mất về tay giặc Minh” [07,
309].
Theo các nhà nghiên cứu, Tứ thư thuyết ước là sách giáo khoa giảng dạy Nho giáo đầu
tiên do người Việt biên soạn. Về sau bộ Tứ thư còn được một số nhà
Nho nổi danh khác biên soạn, diễn dịch, luận giải ra tiếng Việt; nhưng
sách do Chu Văn An làm vẫn được đánh giá cao hơn. Nội dung Tứ thư thuyết ước được xem là “cùng
lý chính tâm”, khác xa Tống Nho cách vật trí tri và còn đi trước cả
Dương Vương Minh đời Minh của Trung Quốc [01, 60].
Ngoài Tứ thư thuyết ước, trước tác mà Chu Văn An để lại còn có Thất trảm sớ, Tiều ẩn quốc ngữ thi (đều chưa tìm thấy). Hiện chỉ có 12 bài thơ chữ Hán chép trong
VQTT, TVTL và HVVT lưu ở Thư viện Hán Nôm Hà Nội. Trong các bài thơ trên
có 5 bài nội dung nói về cảnh chiều tà mà vẫn thể hiện sự lạc
quan (có lẽ đây là những bài được Chu Văn An viết ở Chí Linh, phản
ánh tâm trạng ông lúc đó). Đặc biệt Thất
trảm sớ được người đời bình luận là bài văn bất hủ, “nghĩa cảm
quỷ thần”.
3. Chu Văn An rất nghiêm khắc trong dạy học. Tính ông
cương nghị, thẳng thắn. Học trò ông, kẻ nào xấu thì ông nghiêm khắc
trách mắng, thậm chí la thét không cho vào gặp. Thời nay, nhiều người
hấp thụ tinh thần giáo dục cởi mở, coi trọng người học từ truyền
thống văn hoá phương Tây, sẽ không đồng tình với cách ứng xử nghiêm
khắc của ông. Nhưng nếu không nghiêm túc (có nhiều khi phải nghiêm khắc)
thì liệu người thầy có tạo được sản phẩm tốt cho xã hội? Chu Văn An nghiêm khắc, kết hợp với dạy giỏi đã
tạo ra bao hiền tài cho đất nước. Điều này chúng ta không thể phủ
nhận và nên đồng cảm với ông.
Trong làng giáo Việt xưa nay, có nhiều nhà giáo
tài năng, đức độ. Nhưng người được đánh giá cao như Chu
Văn An thì không nhiều. Bên cạnh năng lực tự học thành tài, năng lực
dạy giỏi thì nhân cách, khí tiết của ông thật đáng để người đời
ngưỡng mộ, đề cao trong lịch sử.
Dưới thời vua Dụ Tông, chính sự rối ren, nhân
cách quần thần trong cung nhiều người suy đồi. Trong bối cảnh đó không
thấy ai lên tiếng, chỉ thấy sử sách chép Chu Văn An dám đứng ra khuyên
can vua. Khuyên can bằng lời không được ông bèn soạn “Thất trảm sớ” dâng
lên đề nghị Dụ Tông chém bảy tên gian thần quyền thế đang được vua sủng
ái. Can trường như vậy trong lịch sử dân tộc xưa chỉ có mình ông. Không
được vua chấp nhận, ông treo mũ từ quan đi ở ẩn và tiếp tục dạy
học. Ứng xử của ông tiêu biểu cho nhân cách của một nhà nho chân
chính. Sau này, Sử gia Ngô Thì Sĩ đã có những lời bình thật xác đáng
về ông trong sách Việt sử tiêu án:
“Văn An là người điềm đạm, giữ tiết hạnh rất nghiêm, không cầu lợi
lộc cao sang, chỉ ở nhà đọc sách và dạy học”. Nhà bác học thời
phong kiến Lê Quý Đôn còn cho chúng ta biết, khi dạy học Chu Văn An
thường nói với học trò của mình rằng: “Phàm học thành đạt cho mình
là để thành đạt cho người, công đức tới dân, ân huệ để lại đời sau,
đấy là phận sự của nhà Nho” [dẫn theo 04, 317].
Mặc dù đi ở ẩn, Chu Văn An vẫn luôn quan tâm đến
chính sự đất nước. Khi triều đình lập vua mới, ông chống gậy về kinh
đô yết kiến. Được vua mời ở lại làm quan nhưng ông khước từ trở về
núi Chí Linh tiếp tục dạy học.
Tài năng, khí tiết, nhân cách, sự đóng góp của
ông được người đời đánh giá cao và hết lời ca ngợi. Đọc lại chính
sử (Đại Việt sử ký toàn thư),
chúng ta sẽ rõ: “An (người Thanh Đàm), tính cương nghị, thẳng thắn,
sửa mình trong sạch, bền giữ tiết tháo, không cầu lợi lộc. Ông ở
nhà đọc sách, học vấn tinh thông, nổi tiếng gần xa, học trò đầy
cửa, thường có kẻ đỗ đại khoa, vào chính phủ. Như Phạm Sư Mạnh, Lê
Bá Quát đã làm hành khiển mà vẫn giữ lễ học trò, khi đến thăm hỏi
thầy thì lạy ở dưới giường, được nói chuyện với thầy vài câu rồi
đi xa thì lấy làm mừng lắm. Kẻ nào xấu thì ông nghiêm khắc trách
mắng, thậm chí la thét không cho vào. Ông là người trong sạch, thẳng
thắn, nghiêm nghị, lẫm liệt đáng sợ đến như vậy đấy. Minh Tông mời
ông làm Quốc tử giám tư nghiệp, dạy thái tử học. Dụ Tông ham chơi
bời, lười chính sự, quyền thần nhiều kẻ làm trái phép nước. An
khuyên can… không nghe, bèn dâng sớ xin chém bảy tên nịnh thần, đều là
những kẻ quyền thế được vua yêu… Sớ dâng lên nhưng không được trả lời,
ông liền treo mũ về quê. Ông thích núi Chí Linh, bèn đến ở đấy. Khi
nào có triều hội lớn thì đến kinh sư. Dụ Tông đem chính sự trao cho
ông, nhưng ông từ chối không nhận. Hoàng thái hậu bảo: “Ông ta là
người không thể bắt làm tôi được, ta sai bảo thế nào được ông ta?”.
Vua sai nội thần đem quần áo ban cho ông. Ông lạy tạ xong, liền đem cho
người khác hết. Thiên hạ đều cho là bậc cao thượng. Đến khi Dụ Tông
băng, quốc thống suýt mất, nghe tin các quan đến lập vua, ông mừng
lắm, chống gậy đến xin bái yết, xong lại xin trở về quê, từ chối
không nhận chức gì” [02, 151-152].
Sử gia Ngô Sĩ Liên bình luận thêm: “Hãy lấy Văn
Trinh mà nói, thờ vua thẳng thắn can ngăn, xuất xử thì làm theo nghĩa
lý, đào tạo nhân tài thì công khanh đều từ cửa ông mà ra, tiết tháo
cao thượng thì thiên tử cũng không bắt làm tôi được. Huống chi tư thế
đường hoàng mà đạo làm thầy được nghiêm, giọng nói lẫm liệt mà bọn
nịnh hót phải sợ... Ông thực đáng được coi là ông tổ của các nhà
nho nước Việt ta mà thờ vào Văn miếu” [02, 152-153]. Phan Huy Chú đánh
giá: “Ông Văn Trinh học nghiệp thuần tuý, tiết tháo cao thượng, được
thời ấy suy tôn, thời sau ngưỡng mộ. Tìm trong làng Nho ở nước Việt
ta, từ trước đến nay chỉ có mình ông, các ông khác thực không thể so
sánh được” [11, 336]. Còn Lê Quý Đôn coi Chu Văn An là “bậc thánh cao
nhất”, sắc phong thời Lê trung Hưng (1784) thì xếp ông “đứng đầu các
nhà Nho, làm rường cột cho đạo ấy. Ghét ác, trừ gian, lẫm liệt một
thời chính khí, giúp dân giữ nước, bàng bạc muôn thuở anh linh” [01,
62].
4. Chỉ tiếc, một trí thức tài năng, tiết tháo,
vì dân, vì nước và được mọi thời ngưỡng mộ như thế mà tại quê hương
ông lại bị đối xử “lạnh nhạt”. Để dạy học, ông phải mở trường ở
đất làng khác. Lúc thành danh không được làng đón rước, khi từ quan
ông phải tìm đến nơi khác (Chí Linh, Hải Dương) ẩn cư và dạy học.
Đến khi ông mất dân làng quê ông cũng chẳng lập đền thờ. Tóm lại ở
nơi ông sinh ra và trưởng thành ông không được dân làng (chính xác là
các chức sắc) trọng vọng. Mãi về sau (đến cuối thế kỷ XIX), nhờ có
sự can thiệp của một đại nho đang chấp chính là Bùi Huy Bích can
thiệp, Hội Tư Văn làng Quang Liệt mới lập đền thờ ông ngoài cái miếu
cũ nhỏ bé ở thôn Văn. Nhưng “chức sắc trong làng cũng chỉ lập một
đền thờ nhỏ ở Viên Đàm (Đầm Tròn) để thờ ông thôi” [03, 557] .
Nguyên nhân dẫn đến thái độ lạnh nhạt, bàng quan
của dân làng Thanh Liệt đối với ông do hai cha con ông là dân ngụ cư.
Dân ngụ cư ở nông thôn xưa bị đối xử phân biệt và không được hưởng mọi
quyền lợi như dân chính cư. Trong lịch sử nước ta, không chỉ có Chu Văn
An bị đối xử như vậy. Ông chỉ là một trong số những nhân vật trí
thức xưa bị tục lệ cũ “đối xử lạnh nhạt”. Muốn biết rõ hơn, mời
quý độc giả tìm đọc bài “Nỗi bất hạnh của một số trí thức Nho
gia”, in trong cuốn sách mới xuất bản (2014) – “Trong cõi” của cố GS
Trần Quốc Vượng [07, 301].
Tài liệu tham khảo
[01]
Nguyễn Quang Ân (Chủ biên): Lịch sử
và văn hoá Việt Nam - Những gương mặt trí thức, Tập I, Nxb Văn hoá thông tin, 1998.
[02]
Viện Khoa học xã hội Việt Nam: Đại
Việt sử ký toàn thư, Tập II, Dịch theo bản khắc năm Chính Hoà
thứ 18 (1697), Nxb Khoa học xã hội, 1998.
[03]
GS Trần Quốc Vượng: Văn hoá Việt Nam , Nxb
Thời đại & Tạp chí Văn hoá nghệ thuật, 2013.
[04]
Minh Châu & DSC: Hồn sử Việt –
Các truyền thuyết, giai thoại nổi tiếng, Nxb Lao động, 2010.
[05]
Ngô Đức Thọ (Chủ biên): Các nhà khoa
bảng Việt Nam
(1075-1919), Nxb Văn học, 1993.
[06]
Từ điển văn học (Bộ mới), Nxb
Thế giới, 2004.
[07]
Trần Quốc Vượng: Trong cõi, Nhã
Nam – Nxb Hội nhà văn, 2014.
[08]
Ngô Đức Thọ (Chủ biên): Văn miếu
Quốc tử giám và 82 bia tiến sĩ, Hà Nội, 2007.
[09]
Nguyễn Đăng Tiến, Nguyễn Phú Tuấn: Danh
nhân giáo dục Việt Nam
và thế giới, Nxb Văn hoá thông tin, 2011.
[10]
Nguyễn Đăng Tiến (Chủ biên): Lịch sử
giáo dục Việt Nam
trước cách mạng Tháng 8-1945, Nxb Giáo dục, 1996.
[11]
Phan Huy Chú: Lịch triều hiến chương
loại chí, Tập 2, Nxb Trẻ, 2014.
[12]
Trung tâm khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Viện nghiên cứu Hán
Nôm: Ngữ văn Hán Nôm, Tập 1, Tứ thư, Nxb
Khoa học xã hội, 2004.
TS. Bùi Hồng Vạn
(Bài đã đăng TC Dạy và Học ngày nay)

Nhận xét
Đăng nhận xét